Theo những ghi chép trong cuốn Gia Định Thành Thông Chí của
Trịnh Hoài Đức hay Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn, không
gian của toàn bộ khu vực Đồng Nai thời gian đầu nằm trong
cả miền Đông Nam Bộ rộng lớn. Được giới hạn một phía bởi những
dãy núi lửa đã tắt từ lâu, tạo nên một bề mặt canh tác thuận
lợi nằm trong những thung lũng và núi đồi, các cư dân từ thời
tiền sử ở khu vực này được sở hữu điều kiện tốt nhất cho việc
trồng trọt, tuy nhiên lúc bấy giờ những khu rừng rậm hãy còn
chiếm phần lớn.
Thời
gian đó, các cư dân thời tiền sử cũng biết tập trung tại những
nơi dễ sinh sống như thung lũng cạnh núi lửa đã tắt hay bên
những con sông. Với trình độ nhận thức và sản xuất thấp, các
cư dân tiền sử chỉ có thể tập trung quần cư ở những nơi mà
nhu cầu sinh sống của họ dễ được đáp ứng. Và với vị trí thuận
lợi cho giao thông đường thủy đơn giản, cùng với những khu
rừng rậm chứa đựng nguồn thực phẩm, điểm giao nhau của các
con sông trở thành miền đất nuôi dưỡng cư dân bản địa thời
bấy giờ. Và Đồng Nai, một khu vực có rất nhiều địa điểm đáp
ứng được nhu cầu ấy, nghiễm nhiên là nơi cư trú trên diện
rộng của người tiền sử ở Nam Bộ. Giờ đây, những khu rừng rậm
rạp như trước không còn nhiều nữa, nhưng mật độ phân bố rừng
ở Đồng Nai vẫn rất đều. Những khu rừng rậm ngập mặn nơi đây
chứa đựng trong mình cả một cuộc sống của những cư dân tiền
sử ở Đồng Nai, nó được khẳng định bởi những hiện vật với nhiều
chủng loại phong phú tìm thấy nơi đây. Cư trú ở những địa
điểm hoang dã như vậy, chủ nhân ban đầu của văn hoá Đồng Nai
đã gặp phải vô vàn khó khăn trong việc tạo lập cuộc sống của
mình, cũng vì thế mà họ đã có những bước tiến dài trong quá
trình tiến hoá. Đầu tiên là việc phải chống lại những khắc
nghiệt của thời tiết, thêm vào đó là những đe dọa từ sự hung
hãn của thú dữ, họ đã dần học hỏi được cách cư xử với thế
giới tự nhiên.
Có lẽ vì đòi hỏi của cuộc sống, cũng như trình độ phát triển
ở mức độ thấp, các cư dân bản địa ở Đồng Nai thời bấy giờ
hoà mình với thiên nhiên, mà lúc đó chính là nơi bao bọc,
nơi cung cấp nguồn sống cho họ. Vì thế mà ngoài những khu
thung lũng rậm rạp, các con sông là nơi người ta dễ tìm thấy
dấu vết xưa kia của họ. Căn cứ vào kết quả khảo cổ, các chuyên
gia đoán định lưu vực sông Đồng Nai đã có con người cư trú
từ thời sơ kỳ đá cũ cách ngày nay khoảng 700 ngàn năm đến
300 ngàn năm. Song chưa có tư liệu nào ghi vùng đất này thủa
ấy gọi là gì ? Nhiều kết quả nghiên cứu cho biết, vùng này
có con người sinh sống từ thời tiền sử, cách ngày nay ít nhất
5000 năm. Cư dân bản địa sống thành bộ lạc, thị tộc, giữa
những lõm rừng già nhiệt đới và ven những con sông. Trên cái
nguồn gốc định cư ban đầu ấy, các cư dân tiền sử ở Đồng Nai
bắt đầu tạo lập cho mình một chỗ dựa để phát triển về sau
này. Từ thủa ban đầu, nhờ có công cụ lao động mà lớp người
cổ Đồng Nai đã dần thoát khỏi loài động vật. Họ sinh sống
quần tụ thành những quần thể nhỏ, bầy người nguyên thủy nương
tựa vào nhau. Ban đầu họ sống bằng cách hái lượm và chế tác
những công cụ lao động, phục vụ cho cuộc sống với những nhu
cầu thiết yếu nhất. Dù cuộc sống còn hoang sơ, song đã sơ
khởi hình thành một hình thái xã hội người xác định.
Người cổ ở Đồng Nai đã duy trì sự tồn tại của mình hàng chục
vạn năm và mở đầu cho tiến trình chinh phục môi trường, hoàn
thiện dần cộng đồng người mang tính chặt chẽ càng lúc càng
được xác lập nhờ vào tích lũy nhận thức. Từ thực tế săn bắt
và hái lượm với những chiếc rìu, những vũ khí được chế tác
thô sơ của hàng triệu năm đá cũ, người cổ ở Đồng Nai đã biết
làm nên những công cụ hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu sản xuất.
Họ biết làm đồ gốm, chăn nuôi và đặc biệt sự sáng tạo vĩ đại
là nông nghiệp. Từ những nền tảng hoạt động ban đầu ấy, những
thành tựu phục vụ cuộc sống đã đưa người cổ ở Đồng Nai phát
triển thêm lên một mức độ cao hơn. Tại hàng loạt các địa điểm
ở Đồng Nai, người ta đã phát hiện được những công cụ lao động
của người cổ, đó là những hiện vật thuộc thời đại đồ đá cũ,
thời đại lịch sử đầu tiên và chiếm khoảng thời gian dài nhất
trong xã hội loài người. Khởi điểm của thời kỳ này được tính
từ khi con người biết chế tạo ra công cụ đầu tiên.
Khi xã hội người tiền sử ở Đồng Nai đã phát triển ở một trình
độ nhận thức nhất định, những bộ lạc nhỏ bên cạnh việc chống
trả thiên nhiên hoang dã, còn phải đối mặt với những cuộc
xâm lược hòng chiếm địa vực sinh sống từ những bộ lạc khác,
và bên cạnh những công cụ lao động thì những chủng loại vũ
khí cũng được chế tạo ra. Vào thời sơ kỳ kim khí, một trong
những thành tựu của Đồng Nai cổ đã xuất hiện, đó chính là
những chiếc qua đồng. Với hình dáng ngọn nhẹ tiện lợi, qua
đồng được sử dụng với nhiều chức năng, nó có thể giúp cư dân
tiền sử hoạt động nông nghiệp, đánh lại thú dữ và tham gia
vào những cuộc hỗn chiến. Những chiếc qua đồng được tìm thấy
rất nhiều tại một địa điểm nằm ở phía Tây Bắc trong khu vực
Đồng Nai rộng lớn. Với đặc điểm là một vùng đất rộng lớn bát
ngát, những thung lũng trải dài bên cạnh những ngọn núi lửa
đã tắt chứa đựng trong mình những điều kiện tốt nhất cho cuộc
sống và canh tác nông nghiệp thời bấy giờ, khu vực này có
thể coi là miền đất hứa cho các bộ lạc tiền sử. Người ta đã
phát hiện bộ sưu tập làm từ chất liệu đồng trên sườn dốc một
ngọn núi lửa cổ thuộc địa phận ấp Long Giao của huyện Long
Khánh. Qua đồng Long Giao có đặc điểm chung là kích thước
và trọng lượng lớn, hai mặt qua được trang trí hoa văn hình
học tinh xảo và cân xứng nhau. Cấu tạo gồm: lưỡi, đốc, chuôi,
hai cánh và khác nhau về thể lượng. Long Giao có thể được
xem là một kho lưu giữ vũ khí của người cổ Đồng Nai hoặc nơi
cư trú và mộ táng cổ có đồ gốm, nồi đồng, trúc đồng. Qua đồng
là một loại vũ khí đặc biệt dùng để chiến đấu tầm gần, cũng
có thể là loại vũ khí biểu thị cho uy quyền của thủ lĩnh cộng
đồng.
Phát hiện về qua đồng Long Giao cho thấy người cổ Đồng Nai
đã biết nghề luyện kim đạt tới trình độ cao. Sự thể hiện tài
tình các hoa văn trang trí trên qua đồng thể hiện óc thẩm
mỹ, sự sáng tạo của những con người tài năng. Đấy là thành
quả của một phức hợp kỹ thuật nghệ thuật đỉnh cao của người
tiền sử Đồng Nai. Để thích ứng trong những điều kiện lịch
sử cụ thể, cư dân cổ Đồng Nai đã biết chế tạo cho mình loại
vũ khí tự vệ và chiến đấu lợi hại. Đó chính là sự khẳng định
vai trò, vị trí của người cổ Đồng Nai trước mọi thế lực đe
dọa đến sự tồn vong chung, đồng thời thể hiện trình độ văn
hoá của tầng lớp cư dân cổ ở Đồng Nai. Vậy những hoạt động
văn hoá của cư dân cổ Đồng Nai bắt đầu từ bao giờ? Khó có
thể tìm ra câu trả lời, ngược lại thời gian về thời kỳ đồ
đá, người ta đã tìm thấy dấu vết của một hoạt động văn hoá
ở mức độ cao của cư dân tiền sử Đồng Nai. Đó chính là bộ đàn
đá tìm thấy ở Bình Đa, được gọi là đàn đá Bình Đa.
Bình Đa là một di chỉ cư trú thuộc loại hình làng cổ ven sông
của người xưa trên vùng đất Biên Hoà - Đồng Nai. Năm 1979,
tại đây đã phát hiện những thanh, đoạn đàn đá còn nguyên vẹn.
Việc phát hiện đàn đá Bình Đa là một dấu nối quan trọng trong
lịch sử nghiên cứu về một loại nhạc cụ độc đáo này trên lãnh
thổ Việt Nam. Đây là một sản phẩm văn hoá tiêu biểu và độc
đáo của cư dân trên đất Đồng Nai. Trong dáng vẻ mộc mạc, thô
sơ của đàn đá là kết tinh cao độ của truyền thống chế tác
và cảm nhận văn hoá của người xưa. Cùng với Bình Đa và Long
Giao, những địa điểm tìm được hiện vật cổ ở Đồng Nai liên
tiếp được các nhà nghiên cứu phát hiện thêm.
Sau khi đã có những phân công lao động theo nhóm, các hoạt
động của cư dân tiền sử Đồng Nai đã trở nên phong phú hơn
trước rất nhiều. Điều đặc biệt hơn là sự phát triển của hoạt
động canh tác nông nghiệp, nhận thức về thế giới tự nhiên
của họ không còn đơn giản như trước nữa. Các cư dân bản địa
đã xây dựng cho mình một lối tư duy phát triển, quan niệm
về thế giới xung quanh, về cuộc sống đã thay đổi. Từ đó những
tục lệ cho cuộc sống, cho những người bên kia cuộc sống bắt
đầu được họ chú trọng hơn.
Những đánh giá của nhiều chuyên gia về phong tục táng người
chết thời tiền sử ở Đồng Nai khá phong phú, có ý kiến cho
rằng người ta táng trong những phiến đá, có ý kiến lại nói
táng thẳng cùng với đồ tuỳ táng, còn những cuộc khảo cổ lại
cho thấy sự khác biệt rất thú vị trong lối táng người chết
ở nơi đây. Tại một ngôi mộ cổ ở Đồng Nai, được gọi là mộ Cự
Thạch Hàng Gòn, một trong 3 thành tựu tiêu biểu cho nền văn
hoá cổ nơi đây. Ngôi mộ được xếp bằng những phiến đá to và
dẹt, trên nền một phiến đá đã được gia công thành nhiều rãnh,
khe. Ngôi mộ được phát hiện vào năm 1927, khi chủ trì việc
mở tuyến đường giao thông từ Long Khánh đi Bà Rịa, một kỹ
sư người Pháp là Jean Bouchot đã phát hiện một ngôi mộ bằng
đá với những cột trụ nằm ngổn ngang trong địa phận đồn điền
cao su. Được phép của trường Viễn Đông Bác Cổ, Jean Bouchot
chủ trì việc khai quật di chỉ vào mùa mưa năm 1927. Sau một
tháng, kết quả khai quật đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên
cứu và trở thành đề tài hấp dẫn. Cho tới tận ngày nay, khi
nhiều hiện vật khác thuộc thời kỳ đồ đá ở Đồng Nai được phát
hiện thêm thì mộ Hàng Gòn vẫn là một biểu tượng văn hoá của
thời kỳ ấy.
Ngôi mộ được làm bởi những tấm đá hoa cương lớn và những trụ
đá dài, nặng. Ngôi mộ hình hộp, dài 4,2 mét, ngang 2,7 mét,
cao 1,6 mét được ghép bởi 6 tấm đá hoa cương bào khá nhẵn
ở mặt ngoài, bên trong đục đẽo sơ sài. Bốn tấm đá thẳng đứng
dùng làm vách, hai tấm nằm ngang dùng làm mặt đáy và nắp đậy.
Mộ Cự Thạch Hàng Gòn được đánh giá là một loại hình mộ cổ
đá lớn nhất so với các ngôi mộ khác đã phát hiện ở Châu á.
Năm 1928, trường Viễn Đông Bác Cổ đã xếp hạng và ghi danh
vào mục các di tích lịch sử "Mộ Đông Dương, Mộ Dolmen
Hàng Gòn, Xuân Lộc, Biên Hoà". Tới năm 1984, Bộ Văn hoá
đã xếp hạng mộ Hàng Gòn là di tích quốc gia, một trong 10
di tích quan trọng ở Nam Bộ.
Mộ di tích Cự Thạch Hàng Gòn là một di tích độc đáo cả về
nghệ thuật và kỹ thuật của các tộc người cổ ở Nam á nói chung
và người Việt cổ nói riêng. Người cổ ở Đồng Nai với sức mạnh
đoàn kết và tài năng sáng tạo đã dựng nên một kỳ tích còn
lưu lại cho hậu thế. Sự tồn tại của mộ Hàng Gòn hơn 2000 năm
qua đã góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề về nền văn minh
được mệnh danh là "văn minh lưu vực cổ sông Đồng Nai",
mặc dù việc hiểu biết về chủ nhân kiến trúc mộ Cự Thạch, hình
thức tín ngưỡng liên quan của cư dân cổ vẫn còn là một bí
ẩn hấp dẫn với các nhà nghiên cứu.
Thời gian cứ trôi đi, kéo theo đó là sự bào mòn những công
trình, sự phá hoại từ nhữngkhắc nghiệt của thiên nhiên, nhưng
quá trình phát triển của nền văn minh cổ thì không hề mất
đi. Xã hội con người cổ ở Đồng Nai thời tiền sử phát triển
khá rực rỡ, tạo biến chuyển cho lớp cư dân cổ Đồng Nai bước
vào trang sử mới, thời kỳ sơ sử bắt đầu.
Vậy là cùng với bước tiến chung của nhân loại, cư dân tiền
sử ở Đồng Nai đã trải qua một chặng đường gập ghềnh ban đầu
để rồi những lớp hậu thế lại viết tiếp lịch sử cho vùng văn
hoá rộng lớn. Đồng Nai có một quá khứ sâu thẳm và cực kỳ lý
thú. Lòng đất Đồng Nai bảo tồn nhiều dấu vết cuộc sống của
con người nguyên thủy. Nhờ vào những phát hiện khảo cổ học
từ trước đến nay của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước,
Đồng Nai nói riêng, lưu vực sông Đồng Nai nói chung được biết
đến với tư cách một vùng đất từng chứng kiến sự hình thành,
phát triển, lao động của những cộng đồng người cổ quần tụ
và liên tục sáng tạo văn minh. Vùng đất Đồng Nai có thể xem
là một trong những chiếc nôi của buổi bình minh xã hội loài
người. Sự xuất hiện của người cổ với nền văn minh tiền sử
phát triển đã đánh dấu một thời kỳ lịch sử quan trọng trong
tiến trình hoàn thiện của nhân loại.
Có thể nói, vùng đất Đồng Nai có đủ thiên thời - địa lợi -
nhân hoà, mà dân gian thường gọi là "đất lành chim đậu".
Nơi này là điểm hội tụ các cộng đồng cư dân, giao lưu và phát
triển kinh tế, văn hoá khá liên tục trải qua các thời kỳ lịch
sử, một vùng đất mở cho cộng đồng Việt từ đàng ngoài vào khai
phá, mở mang.