Vài người bạn cho rằng ở Nam bộ có một dạng "văn minh
ẩm thực"! Thời xưa khác với thời nay. Ngày nay, vì sinh
kế thúc bách, giới lao động có xu hướng ăn những món vừa gọn,
vừa no, ít tốn kém, gọi là "thực phẩm chế biến" khá
đa dạng, đỡ tốn than củi, dầu hôi. Lắm gia đình ăn ở chật hẹp,
khó bố trí được cái bếp, thỉnh thoảng mới dùng đến, khi thèm
món ăn nào đó mà ở hiệu ăn bình dân pha chế không vừa miệng.
Văn hoá vẫn dựa trên cơ sở vật chất: tìm những vật tư với giá
bình dân nào cũng có, cần nhất là món tươi cho ra tươi, khô
cho ra khô. Nhiều người than phiền rằng món ăn ngày nay nhàm
chán, dùng nhiều bột ngọt,món mặn cũng lẫn vị ngọt, lại hôi
mùi dầu ăn (dầu thảo mộc thay cho mỡ heo). Gà công nghiệp, vịt
siêu thịt, toàn những giống ngoại nhập, cũng như thịt heo: heo
công nghiệp không ngon bằng heo ta. Nhưng gà ta, vịt ta khó
kiếm, bán giá cao, nuôi chậm lớn. Lại còn chê bai hương vị rau
cải ngày nay chẳng ra làm sao cả. Toàn là urê, trái bầu, trái
dưa leo, trái dưa hấu lạt lẽo, ăn nhiều dễ sinh bệnh vì hoá
chất (?).
Thời xưa, dân trung lưu ở Sài Gòn và các tỉnh ăn như
thế nào?
Xin dẫn một đoạn đăng trên báo Ðồng Nai, năm 1932. Bấy giờ
bài báo thử đề nghị một toa ăn kiểu toa thuốc, chưa định chữ
mơ-nuy (menu) là thực đơn. Cách đây hơn 60 năm, thực đơn ấy
như sau:
Lót lòng: Cháo trắng ăn với một món, trong
vài món sau đây: ăn với cá kho chiên lại, hoặc thêm chút nước
rồi kho cho sắt lại. Hoặc ăn với tôm khô chiên củ hành, hoặc
cá lóc chà bông, củ cải ngâm nước mắm.
Cơm trưa: Canh chua bạc hà. Cá nướng (cá sông
hay cá biển). Ðồ lòng heo xào củ hành, với bún tàu (miến). Rau
luộc (đọt dền hay đọt lang). Thịt kho nước dừa.
Cơm chiều: Canh thịt nấu cải bẹ, thịt kho
nước dừa (hồi trưa chừa lại), dưa cải hoặc dưa giá, cá sặc hoặc
cá rô muối sương rồi chiên, cua xào dấm.
Ăn mãi như thế thì nhàm, có thể trở bữa. Thí dụ như sáng ăn
cháo đậu với cá lóc kho tiêu, cháo đậu nước cốt dừa. Hoặc cơm
tấm với sườn heo nướng. Bữa trưa, ăn canh bầu nấu với cá trê
vàng, thịt xào rau cần, cá lóc kho với dứa xắt mỏng, đầu trái
dứa thì luộc, xắt mỏng ăn với cá kho, hoặc canh khoai mỡ, khoai
từ. Hoặc canh chua nấu với trái dứa, mắm kho ăn với rau muống,
ghém, rau sống và nhiều ớt, hoặc canh cá phèn, cá vược kho ngót.
Buổi chiều cách thuỷ, mắm phải bầm trộn vào trứng vịt. Bắp chuối
hột hoặc cà dĩa (cà trái ngắn và tròn) để sống ăn với mắm chưng,
canh khổ qua hầm thịt.
Ngẫm lại, các món ăn được đề nghị trên đây, xưa hơn 60 năm
vẫn còn định hình. Buổi ấy, món ăn khá tươm tất, pha chế công
phu.
Ở thành thị hoặc thôn quê, người mẹ và con gái rảnh rang, không
bận rộn làm thêm như bây giờ. Ngày xưa, mướn người phụ việc
gia đình dễ dàng hơn ngày nay.
Ta thấy món mắm kho, nay được đề cao, trở thành lẩu mắm. "Lẫu"
tức là "lô" nói theo giọng Quảng Ðông; mắm kho được
đun sôi. Dễ hẫp dẫn và bảo đảm vệ sinh. Món canh chua cá kho
xuất hiện. Ðã thấy món cơm tấm, bấy giờ, người dân bình thường
vẫn có thể ăn gạo ngon (chưa có giống lúa công nghiệp năng suất
cao thời dân số đông đúc ngày nay). Tấm của gạo ngon nấu khô,
không nhão, quan trọng nhất vẫn là nước mắm ngon. Người Việt
Nam ăn cơm bằng đũa, không dùng nĩa và dao, cơm đựng trong bát.
Ðây là mô phỏng kiểu ăn của người Âu, dùng dĩa, muỗng, nĩa nhưng
tuyệt đối ta không dùng dao. Phải chăng, heo, gà đã bị giết,
cắt ra từng miếng, khi được ăn lại cắt lần thứ nhì, thứ ba là
"bất nhân". Ăn mà cầm dao thì gần như là vô phép đối
với người bên cạnh.
Ngoài món ăn hàng ngày, người Nam bộ rất trân trọng món để
dâng cúng ông bà, thần thánh. Món để cúng trên nguyên tắc, chỉ
là bốn, giống như ở đồng bằng sông Hồng. Ngoài Bắc có giò, nem,
ninh, mọc, trong Nam có món hầm (ninh), thường là giò heo hầm
với măng tre mạnh tông, loại măng to, ít đắng, mạnh tông gợi
ý nghĩa hiếu thảo qua truyện Mạnh Tông mắm giá khóc măng trong
Nhị Thập Tứ Hiếu. Thêm món thịt ba chỉ luộc, xắt mỏng (thịt
phay), món thịt kho với cá, với nước dừa. Và món xào, đại khái
thịt heo xào cải, xào hẹ.
Thời xưa với thần thánh và tổ tiên không có lệ cúng món ăn
tráng miệng như người Tây phương, vả lại, trái cây và bánh đã
dâng lên bàn thờ trước khi dọn mâm cỗ. Không được cúng rượu
Tây, phải là rượu đế cổ truyền, ông cha ta không biết rượu Tây.
Gần như tuyệt đối không cúng những món thịt rừng, hoang dã.
Mâm cỗ có dọn hàng chục món, nhưng chủ lực phải đủ 4 món.
Ngày nay, nhiều cửa hàng đặc sản mọc lên, gọi nôm na là quán
nhậu. "Nhậu", theo Tự vị của Huỳnh Tịnh Của in năm
1895 nghĩa là "uống". Tự vị nói trên còn nêu ví dụ:
nhậu nước, là uống nước. Trên nguyên tắc, mời bạn đi nhậu thì
chỉ nhằm vào một món đặc sản là tri âm tri kỷ đều ưa thích.
Nhậu thì uống rượu nhiều, nói năng lắm khi lung tung, vì vậy
tổ chức nơi riêng biệt, thí dụ như ngoài vườn, không cho trẻ
con lân la, e chúng nó nhiễm tật xấu. Mời bạn ra sau nhà, ngoài
vườn để thưởng thức, ví dụ như thịt chuột rô-ti kiểu Tây, hoặc
rùa, rắn, ếch.
Ăn lẫn lộn đôi ba món thì mất hương vị. Hoặc toàn là cua, tôm,
chim trời, cá lóc nướng. Về phương diện này, nét hoang dã hiện
rõ rệt ở phía Nam. Ðó là dấu ấn của thời nhà cửa chưa an cư,
chưa rảnh rang để chăn nuôi gia súc, trồng rau cải. Bơi xuồng
vào rừng, phá rừng, trọng tâm là dọn mảnh đất để làm ruộng nước.
Bởi vậy, gặp đâu ăn đó, ăn cá nướng thay cơm; ăn rùa, ăn lươn,
những thức ăn mà thiên nhiên ban bố cho, không phải nuôi. Thay
cho rau cải, cứ bứt đọt cây, đọt cỏ, món gì chua chua, chát
chát là cứ ăn, nào đọt cây bần, trái bần chín, đọt ổi, đọt xoài,
rau dừa, bông súng, ngó sen, đọt vừng, đọt chiếc... Những món
ăn hoang dã ấy gẫm lại khá ngon, nhiều hương vị không gì sánh
kịp. Ðó là ký ức tập thể, lưu truyền đến thế hệ sau. Ở Sài Gòn,
cái lẩu mắm với hơn 10 thứ rau rừng, vẫn hấp dẫn được người
có ôtô, nhà lầu. Lại bày bò tùng xẻo, lẩu cá bóng kèo, trông
thô sơ nhưng thịt gà, thịt vịt không sánh bằng. "Thú quê
thuần hức bén mùi (Nguyễn Du). Thời xưa, bên Trung Hoa, vị quan
to nọ chán chê danh lợi, bỗng dưng nhớ đến rau và cá của chốn
quê nhà, bèn treo ấn từ quan.
(Theo Ðài Tiếng nói Việt Nam).