Để
có được một miền đất phương Nam trù phú với những cánh đồng
thẳng cánh cò bay, những cánh chim tung trời, tiếng vó ngựa
reo vui trên đường làng, tiếng mái chèo trên sông nước… chúng
ta không thể quên được công lao to lớn của ông cha ta hơn
300 năm về trước xuôi thuyền vô phương Nam đi mở đất – qua
bao cuộc bể dâu, qua bao cuộc đổi thay, qua bao gian khổ hy
sinh với một tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu quê
hương mãnh liệt.
Không biết tự bao giờ những câu hò, điệu lý đã đi sâu và
in đậm trong từng tấc đất, từng con người và từng mái nhà,
từng rặng cây… để hôm nay chúng ta được kế thừa một tài sản
âm nhạc vô giá mang đậm dấu ấn của miền sông nước, cái nôi
của các ngón đờn tài tử cải lương.
Bài Tình Ca Đất Phương Nam
Nhạc sĩ: Lưu Nhất Vũ
Thơ/lời: Lê Giang
Nhắn ai đi về, miền đất phương nam
Trời xanh mây trắng, soi dòng Cửu Long Giang
Mênh mông rừng tràm, bạt ngàn dừa xanh
Từng tràn nước đong đưa, nhớ người xưa từng ở nơi này
Cho ta thêm yêu dấu chân ngàn năm đi mở đất
Cho ta thêm yêu bầy chim sáo sổ lồng
Ơi, ơi hò, ơi ơi ơi ơi hò
Ơi ơi ơi hò, ơi ơi ơi hò ơi
Còn đâu đây tiếng vó ngựa phi
Mà ngỡ con tàu vỗ sóng bờ xa
Nỉ non sao tiếng nhạn kêu chiều
Buồn xuôi dân phương nam phiêu bạc theo thủy triều
Dẫu trải qua thăng trầm giông tố
Qua bao cuộc bể dâu, mãi dâng cho đời
Bài tình ca đất phương nam
Ơi ơi hò, ơi ơi ơi ơi hò
Cánh chim tung trời, về đất phương nam
Người xưa lưu dấu, in hình thuở mang gươm
Bao la tình đời, màu lục bình trôi
Hoàng hôn tiếng ven sông, tiếng hò khoan còn tỏa đôi bờ
Lênh đênh mây trôi, khói sương chiều miên man nỗi nhớ
Nghe trong âm ba từng con sóng vỗ về
Ơi ơi hò, ơi ơi ơi ơi hò
Ơi ơi ơi hò, ơi ơi ơi hò ơi
Chờ trăng lên cất tiếng gọi nhau
Ðàn khải tan tình đượm thắm hồn ai
Biển xôn xao gió lộng tứ bề
Thuyền ai xuôi phương nam khoan nhặt ôi lững lờ
Ðã trải qua bao mùa mưa nắng
Qua bao cuộc đổi thay, mãi dâng cho đời
Bài tình ca đất phương nam
Ơi ơi hò, ơi ơi ơi ơi hò
Ơi ơi ơi hò, ơi ơi ơi hò ơi ơi hò ơi
HÒN ĐẤT
Thời thơ ấu, tôi biết hòn đất qua giọng văn đầy hào khí
của Anh Đức, sau có dịp về mảnh đất này tôi mới thật sự cảm
nhận được cái phong vị Nam Bộ dạt dào trên quê hương người
con gái anh hùng tên Sứ.
…..Nằm ở khoảng giữa đường Rạch Gía đi Hà Tiên, Hòn Đất có
diện tích tự nhiên khoảng 102 ngàn héc-ta gồm cả núi, biển,
đồng bằng và rừng. Cách đây hàng thế kỷ, khi vương quốc Phù
Nam cổ còn trải rộng bạt ngàn, thì với những di chỉ khảo cổ
hiện có, Hòn Đất đã được khẳng địnhlà một trong những cái
nôi của nền văn hoá Óc Eo rực rỡ… Đến những năm cuối cuối
thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, Hòn Đất thuộc phủ An Biên, tỉnh
Hà Tiên, phía Bắc giáp với Thoại Sơn (An Giang), phía Nam
là 56 km bờ biển của vịnh Cây Dương, Gịach Gía. Thời đó, cư
dân Hòn Đất chủ yếu là người Khơ-me, người Kinh Nam Bộ và
người Hoa. Mãi đến năm 1941, chính quyền Pháp thuộc mới chiêu
mộ 750 hộ nông dân ở Thái Bình, Nam Định vào sống dọc theo
kênh đào Trí Tôn. Bên cạnh những mái nhà lợp lá dừa nước,
những mái nhà tranh vách đất đặc trưng của nông thôn miền
Bắc đã mọc lên trên mảnh đất phương Nam heo hút này, và dần
dần tạo nên bản sắc quần cư mới.
Ngày nay, Hòn Đất là một huyện của tỉnh Kiên Giang đang có
hơn 120 ngàn dân sing sống, lấy nghề nông làm kế sinh nhai
chính. Hôm tôi về địa phương, lũ đã rút , nhưng với hệ thống
kêng rạch chằng chịt thì chiếc xuồng vẫn như hơi thở của người
dân nơi đây. Anh Quang Minh, một dân địa phương khônh nhớ
nổi đã mấy đời, cầm chiếc chèo xuồng ba lá đưa tôi đi thực
tế, tư lự:”Tụi tui lọt lòng mẹ đã thấy chiếc xuồng…”. Cái
giọng nói Nam bộ mộc mạc, đều đều của anh Minh nghe man mác
trong buổi chiều vàng vọt ! Tôi ngồi lặng thinh ở mũi xuồng,
ngó ra xa xa trên cánh đồng có bóng những người nông dân đang
đổ dài, xiêu vẹo trên mặt nước, để gặt mót những bông lúa
xơ xác, khô cằn. Cả địa phương hiện có khoảng 74 ngàn héc-ta
gieo trồng, nhưng cảnh nghèo đói vẫn bàng bạc phủ lê đôi vai
nông dân, và phần lớn đất đai ở đây thường xuyên chìm trong
phèn mặn…
Cột lại chiếc xuồng ở bến sông vắng, chúng tôi ngược lên núi
Hòn. Ở đó có mộ chị Sứ mới xây dựng lại , đầu hướng lên núi
chân xuôi về đồng bằng. Minh kể, cách đây vài năm thôi, mộ
của chị còn đìu hiu lắm. Quang năm chỉ có đám trẻ chăn trâu
quang quẩn bên chị. Lúc thì chúng cầm nén nhang lấy trộm từ
nhà. Lúc thì chúng đặt bó hoa dại hái bên núi. Người ta đồn
chị chết trẻ, nên linh thiêng lắm, và có lẽ chính đám trẻ
chăn trâu này là những người tin tưởng nhất. Mới đây, mộ chị
được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử cách
mạng , và đấu tư xây lại khang trang. Bây giờ, đám trẻ chăn
trâu mỗi lần đến thăm chị phải rón rén vì sợ người gác cổng
già.!
Thắp nén nhang cho chị, chúng tôi lang thang trong buổi
chiều nhạt nắng ở cái xóm nhỏ dưới chân Hòn. Không gian tĩng
lặng, bình yên đến tưởng như nghe được cả tiếng gà đang bới
ăn ở vuừơn sau nhà ai. Xóm thuộc xã Thổ Sơn và có đến 64%
người Khơ –me đang sinh sống. Những mái nhà ẩn khuất trong
các vườn xoài già cội.Anh Minh chỉ cho tôi nét dễ nhận ra
nhất ở đây là có rất nhiều ngôi nhà sàn. Chúng cũng nho nhỏ
như túi yiền của người dân thôi. Hầu hết đều được dựng tạm
bợ bằng cây, lá, và bao quanh bởi những bờ giậu dâm bụt nhà
quê. Minh cười nói:”Dân dã vậy chứ mát mẻ lắm đó. Bên trên
thì có tán xoài che nắng, đằng sau thì có núi, phía trước
thì có gió biển thổi vào. Không tin ông cứ mắc võng ở đây
một ngày, không chừng lại quên luôn thành phố…”.
Không cao lớn, hùng vĩ, nhưng cụm núi Hòn (gồm Hòn Me, Hòn
Sóc, Hòn Qúeo) được đáng giá là một trong những cảnh quan
tự nhiên xinh đẹp vùng đất Tây –Nam đất nước. Tôi và Minh
chậm rãi tìm đường lên đỉnh Hòn Me. Cỏ cây xanh ngát bao phủ.
Mấy khóm hoa dại thơm ngòn ngọt tưởng như nếm thử được. Những
tảng đá lớn nhỏ xếp chồng lên nhau tạo ra nhiều hình dáng
lạ mắt. Thỉnh thoảng những miệng hang âm u, bí hiểm lại hiện
ra. Minh vừa thở vừa cho biết đó chính là những căn cứ kháng
chiến ngày xưa. Chúng có rất nhiều ngóc nghách luồn sâu bên
dưới. Vừa rồi, người ta đã thử thả những trái dừa có đánh
dấu vào trong đó, và không lâu sau thấy chúng trôi nổi ngoài
cửa biển. Leo gần cả buổi, chúng tôi cũng chỉ đến được hơn
nửa núi, rồi đành quay xuống vì không vạch nổi đường lên.
Hái được một bọc xoài núi vàng ươm, nhưng tôi vẫn tiếc hùi
hụi cho cả công sức của mình, và cho cả ngành du lịch đã “bỏ
quên” cảnh quan này. Một địa thế sông núi liền kề, đồng bằng,
biển cả sát nhau rất dễ khai thác du lịch nhất là khi kết
hợp các tour Rạch Gía, Hà Tiên, Châu Đốc.
Cũng giống như nhiều vùng quê Nam Bộ khác, người Hòn Đất gắn
bó với cây lúa, nhưng cũng có nghề truyền thống của riêng
mình. Hôm tôi ghé lành đắp lò đất ở xã Nam Thái Sơn, trời
trưa đã đứng bóng, nhưng nhiều người thợ vẫn chưa chịu nghỉ
tay. Nhóm trai tráng nhồi đất, đắp lò. Các cô gái nhen lửa,
đốt nung. Còn các cụ già ngồi ở hiên nhà trông con nắng để
phơi phóng. Một cụ móm mém kể:”Nghề đắp lò này có ở đây hơn
trăm năm rồi. Nhìn thì vậy chứ đòi hỏi phải cần cù, khéo tay
lắm”. Hớp một ngụm nước mưa trong vắt, cụ lại cho biết cái
lò đất tốt thì ánh màu đồng đỏ, gõ tay vào nghe “coong coong”
và càng để ra mưa nắng càng tốt. Mà muốn vậy phải móc đất
sét từ dưới chân Hòn, rồi nhồi đắp phải đều tay, nung lửa
cho vừa độ…Ở đây, nhiều thợ già kỳ cựu đã khuất bóng nhưng
hiện còn hơn 100 nhà theo đuổi nghề này. Có nhà chỉ đủ kiếm
cơm, nhưng có nhà đã khám phá, mặc dù cái lò đất hình như
bây giờ đã quê mùa lắm rồi ở các phố sá…
Tôi ngồi lặng yên nghe ông kể, mắt dõi ra bến sông, nơi có
các thuyền đang xuống lò để chuẩn bị rong ruổi hồ. Hai ben
bờ, những ngọn tràm nước đã nở hoa trắng rực như báo hiệu
một mùa xuân mới chớm trở về…
(HTV)