Ðôi liễn ấy đã nêu lên những
đặc điểm cơ bản của sân
khấu cải lương. Như trên đã
nói, cải lương vốn là một động
từ mang nghĩa thông thường trở thành
một danh từ riêng. Cải lương có
nghĩa là thay đổi tốt hơn khi so
sánh với hát bội. Sân khấu cải lương
là một loại hình sân khấu khác hẳn với
hát bội cả về nội dung vở soạn
lẫn nghệ thuật trình diễn.
1- Bố cục
Các soạn
giả đầu tiên của sân khấu cải
lương vốn là soạn giả của
sân khấu hát bội. Nhưng các soạn giả
của thuộc lớp kế tục thì nghiêng
hẳn về cách bố cục theo kịch nói:
vở kịch được phân thành hồi,
màn, lớp, có mở màn, hạ màn, theo sự
tiến triển của hành động kịch.
Vai trò của soạn giả, đạo diễn
không lộ liễu trước khán giả mà
ẩn sau lưng nhân vật.
Ban đầu, các vở viết về
các tích xưa (mà người ta quen gọi là
tuồng Tàu) có khi cò
n giữ ít nhiều kiểu bố cục phảng
phất hát bội, nhưng các vở về đề
tài xã hội mới (gọi là tuồng xã hội)
thì hoàn toàn theo bố cục của kịch nói.
Càng về sau thì bố cục của các vở
cải lương (kể cả các vở về
đề tài xưa cũng theo kiểu bố
cục của kịch nói). (Nguyễn Thành Châu,soạn
giả, đạo diễn kiêm diễn viên, 40
năm trong nghề đã nâng cao trình độ
Cải lương của nước nhà)
2- Ðề tài và cốt
truyện
Các vở
cải lương ngay từ đầu đều
khai thác các truyện Nôm của ta như Kim Vân
Kiều, Lục Vân Tiên hoặc các câu truyện
trong khung cảnh xã hội Việt Nam.
Sau đó chiều theo thị hiếu
của khán giả sân khấu cải lương
cũng có một số vở soạn theo các
truyện, tích của Trung Quốc đã được
đưa lên sân khấu hát Bội và được
khán giả rất ưa thích.
Sau này nhiều soạn giả, kể
cả soạn giả xuất thân từ tân học
cũng soạn vở dựa theo truyện xưa
của Trung Quốc hoặc dựng lên những
cốt truyện với nhân vật, địa
danh có vẻ của Trung Quốc nhưng những
cảnh ngộ, tình tiết thì của xã hội
Việt Nam.
(Ngọc Giàu trong vở "Tình yêu và lời đáp")
3- Ca nhạc
Các loại
hình sân khấu như hát bội, chèo, cải
lương được gọi là ca kịch
vì ở đây ca kịch giữ vai trò chủ
yếu. Là ca kịch chứ không phải là nhạc
kịch vì soạn giả không sáng tác nhạc
mà chỉ soạn lời ca theo các bản nhạc
cho phù hợp với các tình huống sắc thái
tình cảm.
Như vậy, nói chung về ca nhạc,
sân khấu cải lương sử dụng
cái vốn dân ca nhạc cổ rất phong phú
của Nam Bộ. Trên bước đường
phát triển nó được bổ sung thêm
một số bài bản mới (như Dạ
cổ hoài lang sau này mang tên Vọng cổ là một
dân ca nổi tiếng của sân khấu cải
lương). Nó cũng gồm một số
điệu ca vốn là nhạc Trung Quốc
nhưng đã được phổ biến
từ lâu trong nhân dân Việt Nam, đã Việt
Nam hóa.
(Phương
Khanh, một trong những diễn viên nổi
tiếng ở buổi đầu sân khấu
Cải lương)
4-Diễn xuất
Diễn viên
cải lương diễn xuất một cách
tự nhiên, nhất là khi diễn về đề
tài xã hội thì diễn viên diễn xuất như
kịch nói. Khác với kịch nói ở chỗ
đáng lẽ nói, diễn viên ca, cho nên cử
chỉ điệu bộ cũng uyển chuyển,
mềm mại theo lời ca. Dù không giống
như cử chỉ điệu bộ của
diễn viên kịch nói, mà vẫn gần với
hiện thực chứ không cường điệu
như hát bội.
Cải lương cũng có múa và
diễn võ nhưng nhìn chung là những động
tác trong sinh hoạt để hài hoà với lời
ca chứ không phải là hình thức bắt buộc.
(Diễn viên Kim Lan)
5-Y phục
Trong các vở
về đề tài xã hội diễn viên ăn
mặc như nhân vật ngoài đời. Trong
các vở diễn về đề tài lịch
sử dân tộc, về các truyện cũ của
Trung Quốc, phóng tác từ những câu chuyện,
hay các vở kịch từ nước ngoài thì
y phục của diễn viên cũng được
chọn lựa để gợi ra xuất xứ
của cốt truyện và của nhân vật,
nhưng cũng chỉ mới có tính là ước
lệ thôi chứ chưa đúng với hiện
thực.
(Thanh Thanh Tâm, một trong những
giọng ca hay được nhiều người
mến mộ ở TPHCM)
(Sưu tầm : VTT)