Ðến bây giờ chắc không ai bàn cãi về chuyện thích cười của
người Việt Nam. "Hóm hỉnh, thích cười, hay cười là một
đặc điểm của người Việt Nam" (Nguyễn Ðức Dân - Tiếng
cười thế giới). Chính vì vậy, nhà văn Nguyễn Tuân đã tổng
kết được một biên chế đầy đủ thang bậc" gồm 39 kiểu cười
của nhân dân ta.
Ông Ba Phi, một người ở vùng U Minh, nơi cuối trời Tổ quốc
ta cũng là một "người góp cười cho một bản đại hòa tấu
cười kéo dài hàng nghìn năm gồm đủ mọi âm sắc, thanh điệu
mà may mắn chúng ta còn biết rõ lai lịch đời tư và hành trang
văn học truyền khẩu của ông đến bây giờ. Hiện nay, người dân
Tây Nam Bộ - từ già đến trẻ - không mấy ai không biết, không
thuộc đôi ba chuyện kể của ông Ba Phi. Các chuyện này do ông
tự nghĩ ra và dùng phương pháp truyền ngôn kể lại cho một
vài người quen biết trong xóm làng nghe. Rồi người nghe tiếp
tục kể lại cho người khác, cứ thế mà lan dần ra. Thời trẻ
của ông Ba Phi có câu chuyện phổ biên quanh vùng là chuyện
"ăn trứng rồng". Ðên giai đoạn sau năm 1954 mới
"rộ" lên nhiều chuyện mới và lan ra khỏi vùng U
Minh, mà phần nhiều là do cán bộ, chiên sĩ đi công tác có
dịp ghé nhà ông ở xã Khánh Bình Tây (Cà Mau) truyền miệng
cho nhau nghe.
Trước năm 1970 là năm ông Ba Phi qua đời, không có văn bản
nào ghi chép lại các chuyện đó, kể cả người trong thân tộc
ông. Ðiều này chứng tỏ các câu chuyện kể của ông Ba Phi là
chuyện truyền ngôn. Tuy vậy các chuyện này mang hình thức
cấụ trúc văn học: Có mở đề (exposition), thắt nút (noeud)
và kết thúc (dénouement). Dòng chuyện kể của ông Ba Phi cho
phép chúng ta hình dung một loại tiểu thuyết chương, hồi rút
gọn mà dù có đảo lộn trật tự thế nào cũng giữ được ý nghĩa
và tính xuyên suốt của các chuyện kể.
Nhìn chung hệ thống chuyện kể này, chuyện nào cũng mang lại
cho người nghe trước hết là tiếng cười sảng khoái, mượt mà
âm sắc trào lộng, rất đặc hiệu Ba Phi, còn ở tầng sâu câu
chuyện thường là có sự gởi gắm sâu sắc về nội dung. Trước
khi đi sâu vào những vấn đề cốt lõi, ta hãy nghe ông kể về
chuyện nếp dẻo của đất U Minh.
"Giáp tết năm đó, hai vợ chồng tôi quết bánh phồng bằng
thứ nếp cấy tại rừng U Minh. Do tôi bổ mạnh tay, bột nếp văng
lên xà nhà. Con chó mực thấy vậy liền nhảy lên táp miếng bột.
Tức thì nó bị treo lơ lửng trên xà nhà như cá mắc câu. Sợ
quá con chó vẫy vùng dữ dội. Cuối cùng nó sứt ra rớt xuống
đất nghe cái "bịch". Coi kỹ lại cái đầu nó cũng
dính trên xà nhà'. Tính tất yếu của chuyện kể dân gian thường
bị "biên tập" hoặc "hiệu chỉnh" lại trong
quá trình câu chuyện "lưu lạc" trong "Công
- chúng - đồng - tác - giả". Lại có trình trạng công
chúng hâm mộ tự giác đóng góp sáng tác của mình vào đó, gây
sự pha tạp làm lẫn lộn với dòng chuyện kể chính thống của
người khởi xướng. Một vài người còn sáng tác ngay trên cái
nền câu chuyện của ông Ba Phi bằng văn học thành văn. Chính
điều này vừa góp phần "tam sao thất bổn" vừa làm
lệch lạc, méo mó phong cách Ba Phi. Ðôi khi chuyện kể còn
đánh mất nguồn cảm hứng chủ đạo lẫn nghệ thuật đặc trưng của
dòng chuyện kê đặc sắc này. Từ sau thập niên 70 của thế kỷ
này, chuyện kể của ông Ba Phi càng "rộ" lên trên
báo chí nhiều nơi như một dấu hiệu chấm hết chiếc hoa mai
cuối cùng trên cành xuân rực rỡ của dòng chuyện Ba Phi. Tuy
nhiên, trong đám lẫn lộn, chúng ta có thể tìm thấy dễ dàng
các chuyện kể chính thống của dòng chủ lưu của tác giả Ba
Phi bởi tính đặc thù của nó: không tên, ngắn gọn, sắc sảo,
trào lộng, nhiều tầng ý nghĩa. Chuyện kể của ông Ba Phi hoàn
toàn nằm trong địa giới rừng U Minh với những "nhân vật"
vốn là đặc sản của khu rừng đặc chuẩn này như lúa gạo, trăn,
rắn, rùa, ong mật... Mỗi "nhân vật" này được xây
dựng thành một chuyện kể. Với lươn, trăn, rắn, ông có chuyện
"ăn trứng rồng", với rùa, có "Tàu rùa",
với ếch nhái, có "Câu ếch"; với ong mật, có "Gác
kèo", với heo rừng, có "Chó nhà săn heo rừng"...
Các "nhân vật" này thường xuyên chi phối nguồn
cảm hứng sáng tạo của tác giả. Tài năng sáng tạo của ông Ba
Phi, trước hết là cảm hứng nhận thức thế giới và phương pháp
chiếm lĩnh hiện thực. Ðó là quá trình thông qua tư duy sáng
tạo, xác lập mối quan hệ giữa hiện thực và hư cấu, nhằm hợp
lý hóa chúng trong quá trình vận động của dòng chuyện kể.
Nghệ thuật chuyện kể của tác giả Ba Phi luôn luôn tuân thủ
pháp trào lộng thông qua phương thức phóng đại sự vật vốl
là nguôn cảm hứng chủ đạo hoặc chủ đề tư tưởng. Phương thức
phóng đại trong chuyện kể của ông Ba Phi được hiểu như mộ
thứ thuật ngữ (terme technique) hoặc một kỹ xảo (adroi) đầy
bản lĩnh, rất đặc trưng. Cấu trúc chuyện của ông là kết quả
của một quá trình lĩnh hội thế giới thông qua bản lĩnh Ba
Phi để cho thấy một thế giới thứ hai hấp dẫn, sinh động và
sâu sắc hơn. Chuyện kể luôn luôn gây không khí hào hứng, nôn
nao, háo hức, một tâm lý chờ đợi hồi kết cục vốn không lâu
lắc gì. Và tại thời điểm đó, chuyện kể bao giờ cũng nổ ra
một trận cười mang ý nghĩa thế giới sâu sắc. Chuyện kể của
ông Ba Phi thuộc loại đa tầng thông tin.
Chuyện "Cọp xay lúa" sau đây là một thí dụ:
"Ðêm hôm đó, lúc tôi đang xay lúa, bỗng nghe hơi cọp,
liền biết "ông thầy' đang rình bên ngoài. Nhờ biết trước
tôi vừa xay lúa vừa thủ thế. Quả nhiên trong chớp mắt, cọp
nhào vô chụp tôi. Tôi liền né sang bên. Cọp lỡ đà, vướng hai
chân vào giằng xay, thế là nó sa đà theo vòng quay của cái
cối đang quay. Thấy vậy, tôi hối "bả" xúc lúa đổ
vào cối. Ðợi cho tới lúc cọp xay hết tám giạ lúa, tôi liền
hét một tiếng thật to: "Cọp" nó hoảng quá, đâm đầu
chạy tuốt vào rừng. Từ đó về sau cọp "bỏ tật" bắt
người ăn thịt". Trong chuyện này, tầng thứ nhất, ông
thông tin về loài cọp. Phương, pháp của tác giả là lợi dụng
kiến thức phổ biến trong đời thường: cọp là loài thú dữ, rất
hung hăng, bắt người ăn thịt... mà không cần kê lể lôi thôi
gì cả. Tầng hai: quan niệm của tác giả: con người thông minh
hơn thú vật, kể cả thú dữ. Tầng ba: lời nhắn nhủ người đời:
cần phải thông minh, tỉnh táo, thận trọng và gan góc mới bám
được rừng mà sống. Tầng thông tin này có ý nghĩa quan trọng
hơn, vì nó thuộc phạm trù chinh phục thiên nhiên mà cả loài
người không ngừng phấn đấu để vươn tới làm chủ thiên nhiên
(Các chuyện khác cũng có mô-típ tương tự chuyện này). Về mối
quan hệ trong câu chuyện vừa kể, là hoàn toàn mang tính chân
thật. Bởi vì cái cối xay luôn luôn quay theo lực tác động,
đồng thời trong chuyển động quay ấy, bản thân nó còn có một
lực tự thân được sinh ra trong quá trình chuyến động mà môn
vật lý học gọi là quán tính. Về phía cọp, nó giữ thăng bằng
nhờ bốn chân, nên khi nó bị kẹt hai chân ở giằng xay, (lại
gặp phải quán tính quay tác động, cùng với tâm lý thất bại
do chụp hụt con mồi) cọp mất đà, lúng túng? buộc phải phục
tùng vòng quay của cối xay. Vậy là từ chỗ chiếm lĩnh hiện
thực, tác giả Ba Phi tạo ra mối quan hệ với sự vật tưởng như
phi lý mà hữu lý đến kinh ngạc. Tất nhiên, việc phóng đại
sự vật vốn là phương thức có tính đặc thù của dòng chuyện
kể này.
Do tính cách ông Ba Phi vốn là một con người thích hài, nên
khẩu khí trong đời thường của ông bị một ít người ngộ nhận
là ông nói dóc. Thực ra, trong từ vựng (vocabulaire) tiếng
Việt, các từ như láo, dóc, phét, đùa... không hề đồng nghĩa
với nhau. Tất nhiên, trong thực tế xử sự có lúc có nơi nào
đó, ông Ba Phi đã sử dụng một trong các cách nói vừa kể trên.
Nhưng theo chúng tôi trong một chừng mực nghiên cứu, cần phải
có cách nhìn khoa học, nghiêm túc để thẩm định trong đám "sa
khoáng" kia, đâu là vàng ròng, đâu là sạn sỏi.
Trở lên, chúng tôi cho rằng phương thức phóng đại sự vật
của ông Ba Phi là một thuật ngữ, một kỹ xảo được ông sáng
tạo trong quá trình sáng tác, nếu không nói là một thứ ngôn
ngữ chuyên ngành được coi là mấu chốt có tính quyết định vận
mệnh của các chuyện kể của tác giả dân gian Ba Phi.
Trong chuyện cười Trung Quốc có "Lịch đại tiếu thoại
tập" do tác giả Vương Lợi Chi tuyển trong số 70 truyện
cười trong nước từ thời Tam quốc đến cuộc cách mạng Tân Hợi
1911 . Tuy nhiên, phần lớn các truyện trong sách này không
thuộc truyện cười như các loại truyện Trạng ở miền Bắc nước
ta (Trạng Quỳnh, Trạng Bột, Trạng Bùng...) hoặc truyện tiếu
lâm, trạng hài kiểu Bai Giai - Tú Xuết mà phần lớn là các
câu chuyện vui, ý nhị. Các nhà nghiên cứu văn học hiện thực
phê phán phương Tây cho biết, họ cũng không tìm thấy ở đó
có tiếng cười trào lộng như dạng truyện cười ở nước ta. Ngay
cả truyện có dạng "Bợm Bảy" (roman picaresque) cũng
không chứa đựng yếu tố cười như ở các truyện cười Việt Nam.
Thế mà ven rừng U Minh có một Ba Phi đã góp phần vào kho tàng
văn học truyền khâu của nhân dân ta những tiếng cười sáng
giá.
Văn học truyền khẩu vốn có nguồn gốc từ xa xưa. Chính loại
hình văn học bình dị và sống động này đã.tạo nến những huyền
thoại, những truyền' thuyết mà bất cứ ở đâu, bất cứ thời kỳ
nào cũng có. Nhưng trong số đó, không phải không có sự rơi
rụng vì bản thân nó không được cuộc sống thừa nhận. Vì thế
mà sổ lượng cũng không nhiều so với các loại hình văn học
khác. Vả lại, lực lượng sáng tác loại hình văn học này xưa
nay rất hiếm, nó giống như cây gụ, cây chò vốn mọc trong rừng,
nhưng tự nó không bao giờ mọc thành rừng thuần chủng, càng
không phải rừng nào cũng sản sinh được loài gỗ quí hiếm đó.
Ðiều này càng làm ta trân trọng biết bao các tác giả văn học
truyền khẩu nói chung, tác giả dân gian Ba Phi nói riêng.
Trước khi từ biệt khu rừng U Minh hùng vĩ của phương Nam Tổ
quôc để yên nghỉ đời đời, các câu chuyện truyền ngôn của tác
giả dân gian Ba Phi đã dựng nên cho ông một tượng đài đứng
mãi cùng năm.