Nếu ở miền Bắc trong ngày Tết, giỗ kỵ, các lễ hội cổ truyền
có bánh dày, bánh chưng để dâng cúng tổ tiên, thì ở Nam Bộ
bánh tét được liệt ngang hàng, coi như bánh Tổ.
Dân Nam Bộ chế biến bánh tét một cách tài tình và phong
phú, tuỳ theo địa phương mà thêm thắt gia vị cho thích khẩu.
Có chỗ gói nếp với nhân đậu xanh, còn gia đình khá giả thêm
vào nhân đậu xanh một miếng thịt theo chiều dài đòn bánh.
Cũng có chỗ không thuần nếp mà trộn lẫn đậu đen để tăng chất
lượng vừa dẻo, vừa bùi.
Đặc biệt ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ngày xưa những gia
đình giàu có, con cháu đông đảo, thường gói bánh tét đòn rất
lớn. Khi tét bánh ra, khoang bánh tròn trịa, nằm gọn gàng
trong lòng một đĩa kiểu trông khá đẹp mắt. Trung bình một
đòn bánh đường kính cả tấc tây và độ nặng khoảng hơn một kí
lô.
Công việc gói bánh khá tỉ mỉ. Trước tiên, đem bếp và đậu
đen vo sạch để ráo nước. Lá dứa đâm nhuyễn lọc lấy nước trộn
hoà vào nếp. Đậu xanh cà, đãi vỏ để sống. Thịt ba rọi (nửa
nạc nửa mỡ) cắt vuông vắn đặt theo chiều dài đòn bánh đã được
ướp trước cho thắm vào hành, muối, đường. Có như thế, thịt
vừa trong, vừa đẹp để khi tét bánh ra, thịt hoà tan vào nhân
đậu xanh, ăn nghe vừa béo của thịt, vừa bùi của đậu, vừa dẻo
của nếp, vừa thơm ngon.
Mỗi lần gói bánh chí ít cũng 5-7 chục đòn, tuỳ theo khả
năng tài chính của mỗi gia đình. Hai đòn cột thành một cặp,
có dây quai để xách cho tiện, khi có làm quà tặng bà con một
cặp vừa đẹp, vừa hợp với tập quán vì năm mới phải đủ đôi,
chẵn cặp, ý chúc cho bà con đủ vợ, đủ chồng là niềm hạnh phúc
thịnh vượng. Bánh khi hấp phải thường xuyên canh chừng lửa,
có khi từ đầu hôm hấp suốt đêm đến 6,7 giờ sáng mới vớt ra.
Để bánh mau chín, các bà nội trợ thường áp dụng một số mẹo
vặt, vắt chanh vào nếp hoặc ngâm nếp với nước khóm một thời
gian chừng vài ba giờ. Không được ngâm lâu, sợ nếp rã thành
bột. Lúc gói bánh, xếp lá chuối ở hai đầu, bẻ thành 4 góc
rồi nức đòn bằng cọng lá chuối phơi khô cho dẻo, cắt nhỏ như
dây lạc. Hiện nay, theo thời hiện đại, cũng có chỗ nức đòn
bằng dây chỉ nhựa.
Nhiều gia đình ăn chay, gói bánh tét nhân ngọt (không có
thịt) nhân đậu xanh có trộn đường; hoặc bánh tét nhân chuối
cũng được ưa thích, chuối thay cho nhân đậu xanh, đòn nhỏ
một trái chuối, còn đòn lớn ba trái chuối xiêm chín có thêm
đường để tăng độ ngọt cho nhân, khi chín có màu đỏ tím. Tét
khoanh bánh ra trong lạ mắt, màu đỏ tím chính giữa nổi bật
bên ngoài màu nếp trắng phau.
Còn một loại bánh tét được chế biến khá đặc biệt nữa là
bánh tét thập cẩm, vẫn bánh tét nếp, phần nhân được nâng cấp
có trứng, tôm khô, lạp xườn, hột sen, thịt giò Bắc thảo, đậu
phộng, nấm đông trộn chung với nhân đậu xanh. Dĩ nhiên, loại
bánh này ăn rất ngon và thực hiện quả là tốn kém.
Trong dịp lễ tết cổ truyền, giỗ kỵ... người Nam Bộ thường
làm bánh tét đãi khách và làm quà biếu xén bà con gây thiện
cảm. Những ngày đầu năm tét bánh ra đãi khách ăn với thịt
kho tàu, chấm nước mắm, thật đậm đà hương vị ngày Xuân. Bánh
tét ra giêng còn dư, nhằm đổi khẩu vị, người ta thường đem
chiên với dầu hoặc mỡ phi tỏi, ăn thấy lạ miệng sau khi đã
chán các món cao lương mỹ vị. Đây cũng là một loại lương khô
rất tiện dụng cho du khách đi xa, leo núi hoặc người hành
quân lâu ngày, bởi có thể để cả mười ngày, nửa tháng không
bị mất phẩm chất.
Trần Trọng Thi