www.thoangsaigon.com : Cái nhìn toàn
cảnh về Sài gòn
Hôm nay
Đất Sài Gòn - Gia
Định là nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hóa, là "cơ cấu kiến trúc"
Việt - Hoa - Châu Âu. Vì trên 300 năm trước, Bến Nghé – Sài Gòn xưa
là nơi tiếp nhận các nguồn lưu dân từ Trung, Bắc đến lập nghiệp, rồi
các di dân người Hoa vào định cư ở Biên Hòa, Mỹ Tho cùng hội tụ với
dân cư bản địa. Sau đó, Sài Gòn trở thành một trong những trung tâm
của cả nước đón nhận những ảnh hưởng của văn hóa Pháp, Mỹ qua các giai
đoạn thăng trầm của đất nước. Tính giao thoa hội tụ của những người
cần cù vượt khó, hội tụ tài năng và sức lực cả nước đã biến Sài Gòn
thành một phức thể văn hóa thông qua phong tục, tập quán, cách thức
ăn mặc, sinh hoạt, ma chay, cưới hỏi; tinh thần đoàn kết dân tộc, năng
động sáng tạo; kiên cường bất khuất, lòng yêu nước, ý chí tự lực tự
cường; tinh thần tương thân tương ái; tính chất hòa đồng, nhạy cảm,
dễ tiếp cận và hòa nhập; cá tính bộc trực, thẳng thắn, trọng nghĩa khinh
tài... vốn là truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của dân tộc và người dân
thành phố.
1. Kiến trúc tại thành phố Hồ Chí Minh
a. Sơ lược lịch sử kiến trúc Sài Gòn-Gia Định
Kiến trúc dưới thời Nguyễn
Xem xét các tài liệu có thư tịch cổ, cũng như các bản đồ và những công
trình khảo cứu về Gia Định-Sài Gòn xưa chúng ta sẽ bắt gặp những trang
viết về "Cổ tích Gia Định".Những công trình kiến trúc thời
Nguyễn hiện lên trên bản đồ của Oliver de Puymanul vẽ năm 1790 là thành
Quy hình bát quái do Gia Long xây dựng năm 1790. Thành này còn có tên
là Gia Định Kinh hay Phiên An Thành.
Thành Quy là căn cứ chính của cuộc khởi nghĩa Lê Văn
Khôi năm 1833. Năm 1835, đàn áp cuộc khởi nghĩa xong, Minh Mạng hạ lệnh
phá hủy toàn bộ thành xây theo kiểu Vauban này và 1836 lại ra lệnh xây
một thành khác ở Đông Bắc thành cũ, gọi là thành Phụng, tức là thành
Gia Định. Thành này bị thực dân Pháp tấn công vào năm 1859 và phá hủy.
Dấu vết duy nhất ngày nay còn lại là bức tranh vẽ ảnh giặc Pháp tấn
công thành và những tàn tích dọc đường Đinh Tiên Hoàng về phía gần xưởng
Ba Son.
Kiến trúc miếu Việt
Từ mặt bằng của thành Gia Định, vào những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế
kỷ 20 đã liên tiếp mọc lên những công trình kiến trúc phương Tây (Nhà
thờ Đức Bà (1877-1880). Pháp đình, dinh Thống đốc, Nhà Bưu chính, Nhà
hát, Chợ Bến Thành, dinh Nôrôdôm). Cùng số phận với thành Gia Định,
một số ngôi chùa lớn bị thực dân Pháp chiếm làm đồn bốt phòng ngự, chống
lại những trận phản công của nghĩa quân kháng chiến xuất phát từ vùng
đại đồn Chí Hòa mà chúng gọi là chiến tuyến "chùa chiền" digne
des pagodes). Đó là chùa Khải Tường đền Hiển Trưng (ở thành Ôma), chùa
Kiếng Phước, chùa Cây Mai trải dài từ vùng tiếp cận thành Gia Định (nay
là trường Lê Quí Đôn) đến Phú Lâm. Ngày nay những dấu vết ấy chỉ còn
sót lại một pho tượng Phật gỗ để ở Bảo tàng Lịch sử.
Các chùa, miếu, đền thờ xây dựng từ thế kỷ 18, đầu
thế kỷ 19 cũng bị chiến tranh và thời gian phá hủy phần lớn. Đến nay
số công trình kiến trúc theo phong cách Việt còn sót lại là quá ít.
Trong số đó, hầu hết đều được trùng tu lại trong những năm bản lề của
thế kỷ trước và thế kỷ này. Đó là Chùa Trường Thọ ở Gò Vấp, Chùa Tứ
Ân, Chùa Gò (Phụng Sơn Tự) chùa Giác Viên ở quận 11, chùa Giác Lâm ở
Quận Tân Bình, chùa Phước Tường ở huyện Thủ Đức. Ngoài ra có thể kể
một vài ngôi nhà cổ của tư nhân như bà Tư Lân, nhà Nguyễn Phú Đường
ở Nhà Bè, nhà ông Mười Tiết ở Thủ Đức.
Kiến trúc đền chùa Hoa
Trước khi những công trình kiến trúc kiểu phương Tây có mặt ở đất Sài
Gòn, nơi đây ngoài các công trình của người Việt, còn có các công trình
xây dựng của người Hoa. Những công trình lớn của người Hoa là đền miếu-thường
là trụ sở của các bang và được gọi là Hội quán-đã làm cho diện mạo phố
xá của xứ này, nhất là vùng Chợ Lớn có vẻ riêng. Xem xét tường tận những
đền miếu của người Hoa, hình thức kiến trúc khác với hình thức kiến
trúc của người Việt, song công trình chạm trổ bên trong bao gồm các
bao lam, các phù điêu trên kèo, cột, đầu đao, xiên trích có không ít
những sản phẩm do thợ người Việt tạo tác. Đặc biệt những hội quán của
người Minh Hương như Gia Thạch hội quán (đường Trần Hưng Đạo-quận 5).
Nghĩa Nhuận quán (đường Nguyễn Văn Khoẻ-quận 5). Phước An hội quán (đường
Hùng Vương) là những công trình kiến trúc-mỹ thuật thuần Việt Nam.
Những công trình kiến trúc của họ Nguyễn ở Gia Định
kinh, cùng với đền chùa miếu mạo của người Việt, người Hoa đến nay hầu
như đã bị khuất lấp bởi các kiến trúc tân kỳ theo phong cách phương
Tây. Không chỉ những dinh thự, công sở mà những khu thương mại và cơ
sở công nghiệp đã phát triển với một tốc độ và qui mô đủ để đưa những
kiến trúc ấy vào hàng thứ yếu, làm đổi thay về cơ bản kết cấu kiến trúc
Sài Gòn-Gia Định.
Kiến trúc giai đọan 1954-1975
Trong những thập niên đầu thuộc nửa sau thế kỷ này, suốt từ 1954-1975,
đồng thời với sự xuất hiện các thương xá, ngân hàng, khách sạn, nhà
thờ và hàng loạt các công trình công cộng. Ở Sài Gòn cũng xuất hiện
một số kiến trúc, phỏng theo các kiến trúc Việt Nam cổ, tất nhiên là
với vật liệu xây dựng mới và cách tân khá nhiều.
Thời kỳ này, những năm đầu các đền miếu của một số
hội tương tế như đền thờ Trần Hưng Đạo, đền Thánh Mẫu Phủ Giấy và đền
thờ Hai Bà Trưng (Bình Thạnh), đền Sài Sơn (một ở đường Lê Văn Sĩ và
một ở đường Nguyễn Thiện Thuật), Đằng Giang Linh từ (tức đền thờ Quan
Bơ ở quận 4) và sau năm 1963, khi Ngô Đình Diệm bị đảo chánh, hàng loạt
các chùa Phật mới được xây dựng và một số chùa cũ được trùng tu lại.
Đáng kể trong số này có chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Một Cột (Thủ Đức), chùa
Phước Hòa (Quận 3), chùa Pháp Hội (quận 10)....
b. Vài đặc điểm cơ bản của kiến trúc nghệ thuật
Đặc điểm kiến trúc
Những công trình kiến trúc trong vài thập niên qua tuy có để ý tìm về
đặc trưng riêng trong kiến trúc truyền thống song thực sự đã biến đổi
khác xưa rất nhiều. Phong cách kiến trúc truyền thống cũng như những
công trình điêu khắc đậm đà bản sắc dân tộc còn được bảo lưu đầy đủ
có lẽ là chùa Trường Thọ, chùa Từ Ân và qui mô nhất là chùa Giác Lâm,
kế đó là chùa Giác Viên, chùa Gò (Phụng Sơn Tự) và một số ngôi nhà cổ
ở rải rác khắp các huyện ngoại thành.
Đặc điểm chung của các ngôi chùa có những công trình
kiến trúc tiêu biểu nhất cho kiến trúc Gia Định là kiểu nhà "trùng
thềm điệp ốc" (hay còn gọi là "trùng thềm trung lương").
Đây cũng là kiểu cách chung cho kiến trúc Đàng Trong thế kỷ 18, 19.
Theo đó, mục đích chính là phát triển diện tích nội thất ở chiều sâu
bằng cách lắp ghép hai tòa nhà song song liền mái. Kiểu này cũng rất
phổ biến trong nông thôn Nam Bộ và thường được gọi là nhà "sắp
dọi". Việc sắp đặt như vậy đã thực sự tạo nên một nội thất thống
nhất và bên trong thường được phân chia bằng vách ngăn theo các hàng
cột để thành chánh điện, nhà tổ và giảng đường.
Mặt khác kiểu "trùng thềm điệp ốc" này đứng
về mặt kết cấu bộ vì kèo và sườn nhà mà xét thì chúng xuất phát từ kiểu
nhà rường (còn gọi là xuyên trính-ở Nam Bộ gọi là xiên trính). Nói chung
kiểu nhà truyền thống của người Việt chủ yếu được trỏ cưa theo chiều
ngang nên hẹp: do đó việc lắp ghép hai toà nhà song song như vậy nhằm
làm cho diện tích nội thất được tận dụng hơn, dễ dàng bày biện hơn,
cũng như thuận tiện cho việc tổ chức nghi lễ và tăng thêm tính thâm
nghiêm cho không gian nội thất. Ở một số nơi việc mở rộng chiều sâu
cũng theo nguyên tắc trên, nhưng giữa các tòa nhà không ghép liền vào
nhau mà nối nhau bằng hai nhà cầu dọc, để chừa ở giữa một cái "sân
đình". Cái sân trong này có tác dụng làm thoáng gió và hắt ánh
sáng vào nội thất. Đó là trường hợp chùa Phụng Sơn. Nghĩa Nhuận hội
quán, phần sau giảng đường và nhà khách chùa Giác Lâm.
Tuy nhiên, so với đình chùa miền Bắc và cung điện lăng
tẩm ở cố đô Huế, vẻ đẹp kiến trúc của di tích Gia Định-Sài Gòn không
có được những mái cong đồ sộ hay qui mô to lớn. Trái lại nhìn bên ngoài
rất đơn giản và bình thường. Cái giá trị mỹ thuật có lẽ là những công
trình điêu khắc bên trong.
Đặc điểm điêu khắc
Là một thành phố cửa ngõ, sự hội tụ các phái thợ nhiều nơi trong nước,
cùng với việc tiếp thu những kỷ xảo và quan niệm về nghệ thuật tạo hình
hiện đại đã làm cho điêu khắc chủ yếu trên gỗ ở các di tích kiến trúc
nghệ thuật Gia Định-Sài Gòn trải qua từng bước hoàn thiện đáng chú ý.
Tượng tròn
Vẽ tượng tròn, dựa theo niên đại của tác phẩm rất dễ nhận ra những chặng
đường phát triển của nghệ thuật tạc tượng. Những tượng ở chùa Trường
Thọ, Tập Phước, Bảo An, Từ Ân, Long Nhiễu, Huệ Nghiêm (Thủ Đức)..là
tập hợp của thế hệ tượng sớm nhất của đất Gia Định. Đây là những pho
tượng còn rất thô sơ. Bố cục tượng không vững thường là bố cục tam giác
thiếu cân đối, đầu nhỏ, chân tay dài, mặt nhọn và không có thần, tỉ
lệ thân, mặt bất xứng.
Phù điêu
Việc áp dụng luật viễn cận mới triệt để nhất là ở những bức phù điêu
chạm trên các hương án chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Một Cột và đền Quan Bơ.
Những thắng cảnh trong nước (như chùa Một cột, chùa Thiên Mụ...., những
ngói đền thờ danh thắng ở châu Á và những phong cảnh khác đã được thể
hiện bằng lối chạm nổi trên gỗ có thiếp vàng trông rất mỹ thuật. Việc
tái hiện những kỳ quan "vĩ đại và rực rỡ" của châu Á trên
gỗ đạt được kết quả như vậy là một bước tiến so với những kỹ xảo chạm
nổi về đề tài cảnh vật và hoa lá cổ điển mà chủ yếu có tính chất trang
trí trên các bộ phận cấu thành bộ khung của công trình kiến trúc. Một
cách hiển nhiên là những phù điêu trang trí trên cột, kèo, xiên chính
v.v... đã tôn vẻ mỹ thuật của các công trình kiến trúc.
Chạm lộng
So với phù điêu, thể loại chạm lộng chiếm tỉ trọng lớn hơn rất nhiều.
Chính những bao lam (cửa võng) ở các hàng cột, những bao lam trang thờ,
các bài vị, các bức bình phong cùng với bao lam các bàn thờ, bệ thờ
và hương án mới thực sự tạo nên sự tráng lệ và vẻ vàng son huy hoàng
của đền miếu và chùa chiền. Qua các di tích đã được khảo sát ở Sài gòn,
số lượng tác phẩm chạm lộng phong phú về cả số lượng, đề tài cũng như
thủ pháp và phong cách nghệ thuật.
Sự phong phú và đa dạng của kỹ thuật chạm lộng đã tăng
cường giá trị nghệ thuật, cho các di tích kiến trúc-nghệ thuật Gia Định-Sài
Gòn. Nhiều bức chạm lộng đến nay là đối tượng của sự chiêm ngưỡng và
thán phục của nhiều thế hệ nghệ nhân và của khách tham quan (như bao
lam Bá điều, bao lam Cửu Longv.v...)
Tiểu tượng và quần tiểu tượng
Ngoài các thể loại trên loại tiểu tượng (tượng tròn và tượng bá phù
điêu) kết hợp với chạm lộng thường lại đạt được nghệ thuật cao từ rất
sớm hơn thành tựu của tượng tròn. Nếu tượng tròn thế hệ thứ hai mới
đạt được sự cân xứng và đường nét chân phương bước đầu thì các tiểu
tượng trên các bao lam và nhà tổ chùa Giác Viên đã là những tác phẩm
được xử lý có thần thái sống động, đường nét chạm đã chắc tay, bút pháp
đã lưu loát, tư thế sinh động và đề tài phong phú.
Với 300 năm hình thành và phát triển, Sài gòn là một
thành phố trẻ nhưng cũng có không ít những tài nguyên du lịch nhân văn.
Đó là những công trình kiến trúc cổ như Nhà Rồng, đền Quốc Tổ, dinh
Xã Tây, Nhà hát lớn, Bưu điện, hệ thống các ngôi chùa cổ (chùa Giác
Lâm, chùa Bà Thiên Hậu, Tổ Đình Giác Viên...), hệ thống các nhà thờ
cổ (Đức Bà, Huyện Sỹ, Thông Tây Hội, Thủ Đức...). Nhìn chung, một trong
những đặc trưng văn hóa của 300 năm lịch sử đất Sài Gòn - Gia Định,
nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hóa, là "cơ cấu kiến trúc"
Việt - Hoa - Châu Âu. Đó là một tổng thể kiến trúc mà vùng đất này sở
hữu được. Có thể nói Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm văn
hóa của đồng bằng sông Cửu Long. Thành phố này là nơi phổ biến chữ quốc
ngữ đầu tiên, là nơi ra báo đầu tiên của cả nước. Sự ra đời và phát
triển phong phú của sách, báo, trường học, của đội ngũ trí thức và văn
nghệ sĩ, của các hoạt động và giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật...
đã tạo cho Sài Gòn từ lâu là một thành phố có ảnh hưởng lớn về văn hóa.