Thành quả của những năm
đổi mới
Là trung tâm của địa bàn Kinh tế Trọng điểm phía Nam, Sài gòn - nay
là thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) đang đóng vai trò "một cực
phát triển" của nền kinh tế cả nước, tác động lôi kéo cả khu
vực phía Nam cùng phát triển. Thành phố Hồ Chí Minh có tổng diện tích
tự nhiên 2.095 km² và được chia thành 22 quận huyện; với 303 đơn vị
cơ sở phường, xã. Khu vực nội thành gồm 17 quận: 1, 3, 4, 5, 6, 8,
10, 11, Phú Nhuận, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình (nội thành cũ) và
các quận 2, 7, 9, 12, Thủ Ðức (nội thành mở rộng); với diện tích 442,1
km² và bao gồm 238 phường. Khu vực ngoại thành, gồm 5 huyện: Củ Chi,
Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ; với diện tích 1.652,9 km²
và bao gồm 65 xã. Phía Bắc TP.HCM giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp
tỉnh Tây Ninh, Ðông và Ðông Bắc giáp tỉnh Ðồng Nai, Ðông Nam giáp
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và tỉnh Tiền
Giang, phía Nam giáp với biển Ðông, có bờ biển dài 15 km.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong bốn tỉnh, thành
phố thuộc địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, là đầu mối giao thông
lớn, nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ của cả nước với quốc
tế qua hệ thống giao thông đường hàng không, đường thủy, đường bộ.
Dân số thành phố năm 2001 đã lên tới 5,28 triệu người,
với tốc độ tăng dân số bình quân năm trong giai đoạn 1991-2001 là
2,48%. Cùng với sự gia tăng dân số lao động làm việc trong các ngành
kinh tế quốc dân trên địa bàn thành phố cũng tăng từ 1,41 triệu năm
1991 lên 2,26 triệu năm 2001, với một nhịp độ bình quân năm giai đoạn
1991-2001 là 4,45%. Tới năm 2001, tỷ trọng lao động đang làm việc
tại khu vực công nghiệp là 41%, khu vực dịch vụ là 53%, còn khu vực
nông nghiệp chỉ còn 6%. Là nơi có quy mô dân số lớn nhất so với các
tỉnh và thành phố khác, dân số TP.HCM chiếm 6,7% dân số cả nước, trong
khi diện tích chỉ chiếm 0,6% diện tích toàn quốc. Tuy vậy, với chỉ
hơn 5% lực lượng lao động cả nước, Thành phố đã đóng góp xấp xỉ 20%
tổng thu nhập quốc gia, 30% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước,
26% tổng mức bán lẻ hàng hóa, trên 40% kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam và gần 1/3 nguồn thu ngân sách (thu nội địa so với cả nước).
Sự phát triển kinh tế-xã hội của TP.HCM trong vòng
một thập kỷ vừa qua luôn gắn liền với sự nghiệp đổi mới của cả nước.
Việc xóa bỏ cơ chế bao cấp, phát triển nhiều thành phần kinh tế kết
hợp những nỗ lực xây dựng cơ chế-chính sách tập trung vào hệ thống
các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô và khung pháp lý nhằm tạo điều kiện
cho cơ chế thị trường hoạt động hiệu quả đã phát huy được tiềm lực
và tính năng động của một trung tâm kinh tế lớn nhất đất nước. Nhịp
độ tăng trưởng kinh tế của Thành phố bắt đầu tăng tốc từ đầu thập
niên 1990. Bình quân giai đoạn 1991-1995, tổng sản phẩm nội địa (GDP)
của Thành phố tăng 12,6%/năm. Trong giai đoạn 1996-2000, tốc độ tăng
trưởng GDP bình quân trên địa bàn TP.HCM là 10,2%/năm. Tính chung
thời kỳ 1991-2000, GDP Thành phố tăng bình quân 11,4%/năm (tốc độ
tăng của cả nước là 7,5%/năm). Do vậy, nếu trong mười năm (1991-2000)
GDP cả nước tăng 2.06 lần thì TP.HCM tăng 2,8 lần. Nhờ tốc độ tăng
cao nên tỷ trọng GDP của TP.HCM so với cả nước tăng từ 13,6% năm 1990
lên 16,7% năm 1995 và trên 19% vào năm 2000.
TP.HCM trong quá trình
hội nhập kinh tế
Hai động lực quan trọng tạo nên sự tăng trưởng nhanh
của TP.HCM cũng như của Việt Nam chính là xuất khẩu và đầu tư nước
ngoài-những thành quả của quá trình mở cửa và hội nhập với nền kinh
tế khu vực và thế giới.
Có thể nói bước vào thập niên 1990, hoạt động xuất
khẩu của Thành phố và cả nước đã gặp phải thách thức rất lớn khi thị
trường Ðông Âu không còn nữa. TP.HCM chủ động chuyển nhanh sang thị
trường châu Á và Tây Âu đồng thời kiến nghị với Chính phủ ban hành
một loạt các chính sách về tự do hóa thương mại như cho phép doanh
nghiệp tư nhân được tham gia xuất khẩu, giảm thuế xuất khẩu các sản
phẩm nông nghiệp, giảm bớt hệ thống xin phép nhập khẩu và đặc biệt
là đề nghị được phép xây dựng một khu chế xuất đầu tiên trong cả nước.
Những thay đổi trên cộng với việc chuyển trọng tâm
trong chính sách công nghiệp từ công nghiệp nặng sang công nghiệp
sản xuất hàng tiêu dùng và hàng phục vụ xuất khẩu đã góp phần làm
cho kim ngạch xuất khẩu của Thành phố tăng bình quân 22,4%/năm từ
năm 1991 đến 2000. Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của Thành phố đạt
6,4 tỷ USD, chiếm 44,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Cơ cấu
kim ngạch xuất khẩu cũng đã có sự chuyển dịch đáng kể trong 5 năm
qua. Nếu trước đây xuất khẩu chủ yếu là các mặt hàng nông sản thô
và nông sản chế biến và một số hàng thủ công, mỹ nghệ thì nay trên
hai phần ba xuất khẩu của Thành phố là hàng công nghiệp. Tỷ trọng
kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu
địa phương của Thành phố tăng từ 20,4% năm 1991 lên 62,3% năm 1996
và 73,4% năm 2000. Nhập khẩu của TP.HCM, trong đó bao gồm cả hàng
tiêu dùng lẫn các nhập lượng quan trọng cho quá trình công nghiệp
hóa, cũng tăng với tốc độ bình quân 14,9%/năm trong giai đoạn 1991-2000.
Tính đến hết năm 2001, tổng số vốn đầu tư trực tiếp
của nước ngoài vào TP.HCM còn hiệu lực là 11,09 tỷ USD, với số dự
án lên tới 1.064. Các dự án đầu tư vào công nghiệp chiếm 40,5% tổng
vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn; các dự án kinh doanh bất động
sản và hoạt động tư vấn chiếm 21,5%; các dự án thương mại-khách sạn-nhà
hàng chiếm 15,7%; và các dự án bưu điện, vận tải chiếm 12,5%. Từ năm
1991 đến 2000, giá trị gia tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
đã tăng trưởng với tốc độ bình quân 43,3%/năm, đóng góp tới 18,6%
trong cơ cấu GDP Thành phố năm 2000. Không những phát triển nhanh
mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn kéo theo sự phát
triển của các thành phần kinh tế khác. Tính toán cụ thể cho thấy mức
tăng trưởng GDP của TP.HCM sẽ thấp đi khoảng 3% hàng năm nếu như không
có đầu tư nước ngoài.
Sự phát triển kinh tế đã tạo ra tiền đề cho việc
nâng cao đời sống nhân dân và đẩy nhanh các chương trình xóa đói giảm
nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương. Năm 2001, thu nhập bình
quân đầu người ở TP.HCM đạt mức 1.460 USD. Với tỷ lệ đầu tư từ ngân
sách thành phố tăng lên hàng năm, hệ thống giáo dục và y tế được tăng
cường thể hiện qua tỷ lệ mù chữ giảm dần, tỷ lệ học sinh trong độ
tuổi đi học đến trường tăng lên hàng năm, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng
giảm và số lượng giường bệnh và số người được khám chữa bệnh đều tăng
lên rõ rệt.
Thách thức đối với TP.HCM trong
quá trình phát triển và hội nhập kinh tế
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, nhưng nền kinh tế của
TP.HCM và cả Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém về cấu trúc kinh tế. Sản
xuất công nghiệp vẫn phát triển theo chiều rộng mà chưa theo chiều
sâu, trong khi các ngành dịch vụ quan trọng như tài chính-ngân hàng
còn rất kém phát triển. Hơn thế nữa ở TP.HCM, do sức ép của hiện tượng
tăng dân số cơ học cao, cơ sở hạ tầng luôn ở trong tình trạng quá
tải, từ đó làm xói mòn những lợi thế kinh tế vốn có của Thành phố.
Chính vì vậy mà khi chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính vừa
qua trong khu vực, tốc dộ tăng trưởng kinh tế đã suy yếu.
Những thách thức trong quá trình phát triển, cũng
như trong quá trình hội nhập kinh tế đòi hỏi những cải cách kinh tế
và chiến lược phát triển toàn diện cả ở tầm vĩ mô và trong phạm vi
thành phố. Triển vọng tăng trưởng và phát triển kinh tế của TP.HCM
phụ thuộc rất nhiều vào xây dựng và triển khai đồng bộ các chính sách
và giải pháp:
- Tăng cường xuất khẩu, mở rộng thị trường nước ngoài cho các sản
phẩm công nghiệp chế biến có hàm lượng công nghệ, hàm lượng chất
xám cao của TP.HCM và của Vùng Nam bộ;
- Ðổi mới doanh nghiệp nhà nước;
- Củng cố và hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, phát triển thị trường
tiền tệ song song với phát triển thị trường vốn dài hạn;
- Phát triển thị trường địa ốc;
- Ðổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
và sản phẩm.
- Cải cách hành chính;
- Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội với sự tham gia của
nhiều thành phần kinh tế;
- Hình thành các chương trình mục tiêu đối với các ngành và lĩnh
vực có tiềm năng tăng trưởng với tốc độ cao của TP.HCM như dệt-may,
da giày, hóa chất-cao su, cơ khí, điện tử, công nghệ phần mềm, bưu
chính-viễn thông, tài chính-ngân hàng, dịch vụ tư vấn và các dịch
vụ cơ sở hạ tầng xã hội như giáo dục và y tế...
Một số định hướng phát triển
trong tương lai
Trong mối quan hệ chung của cả nước, thành phố Hồ Chí Minh đã, đang
và sẽ là một trung tâm nhiều chức năng về kinh tế, thương mại, tài
chính, công nghiệp, du lịch và giao lưu quốc tế, văn hóa, khoa học,
giáo dục, đầu mối giao thông..., một trọng điểm bảo đảm an ninh và
quốc phòng của khu vực phía Nam và cả nước. Ðặc biệt là trong hai
thập niên tới, thành phố Hồ Chi Minh sẽ là một cực phát triển mạnh
cùng với các tỉnh lân cận thúc đẩy quá trình phát triển của Vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam, đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của nền
kinh tế cả nước, tăng cường sức mạnh đối tác trong hợp tác và cạnh
tranh với các nước trên thế giới.
Báo cáo "Ðiều chỉnh quy hoạch kinh tế-xã hội
TP.HCM đến năm 2010" đã đưa ra mục tiêu tăng trưởng GDP bình
quân giai đoạn 2001-2010 là 12%/năm, trong đó, giai đoạn 2001-2005
tăng trưởng bình quân 11%/năm và giai đoạn 2006-2010 tăng trưởng bình
quân 13%/năm. Ðể đảm bảo tốc độ tăng trưởng này, Thành phố không những
phải khai thác tối đa các nguồn lực về lao động và vốn đầu tư, mà
hiệu quả sử dụng các nguồn lực và môi trường chính sách vĩ mô cũng
phải được cải thiện. Hơn nữa, cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế của
Thành phố phải được chuyển dịch theo hướng gia tăng tốc độ, tỷ trọng
và năng lực sản xuất của các ngành chủ lực bao gồm các ngành công
nghệ chế biến có lợi thế so sánh, hướng vào xuất khẩu và các ngành
dịch vụ cao cấp.
Từ tiềm năng và lợi thế cũng như những nỗ lực thúc
đẩy quá trình công nghiệp hóa của cả nước, hoạt động sản xuất công
nghiệp sẽ tiếp tục có tốc độ tăng trưởng cao hơn khu vực dịch vụ từ
nay cho đến năm 2005. Giai đoạn 2001-2005 với trọng tâm thực hiện
các mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên tốc độ tăng trưởng
của các ngành sản xuất công nghiệp sẽ cao hơn các ngành kinh tế khác,
thị trường hàng công nghiệp thành phố được mở rộng theo hướng đẩy
mạnh xuất khẩu sẽ thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chế biến.
Lúc này đầu tư sẽ hướng về khu vực II, đẩy mạnh tốc dộ tăng trưởng
công nghiệp chế biến ít nhất là đạt mức trên 13%/năm, như vậy cơ cấu
kinh tế sẽ dịch chuyển mạnh sang khu vực II. Công nghiệp phát triển
lại kéo theo các ngành dịch vụ cao cấp như tài chính ngân hàng, bưu
chính viễn thông... phát triển. Hội nhập quốc tế và thúc đẩy đầu tư
nước ngoài, mở rộng thị trường quốc tế sẽ kéo theo ngành du lịch phát
triển mạnh. Như vậy theo viễn cảnh này tuy khu vực III-khu vực thương
mại-dịch vụ có giảm về cơ cấu nhưng lại tăng về chất do tỷ trong các
ngành dịch vụ phục vụ sản xuất và dịch vụ cao cấp sẽ cao hơn trong
khu vực III.
Giai đoạn 2006-2010, về cơ bản các khu công nghiệp
ở Thành phố đã được lấp đầy cơ cấu công nghiệp sẽ đa dạng hóa hơn
với sự phát triển song song của các ngành thâm dụng lao động lẫn thâm
dụng vốn, nhưng trọng tâm sẽ hướng vào những sản phẩm, ngành hàng
là lợi thế của thành phố-một trung tâm khoa học-công nghệ lớn của
cả nước. Mặc dù vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao, xấp xỉ giai đoạn trước
nhưng trong giai đoạn này công nghiệp thành phố sẽ bắt đầu có xu hướng
giảm tỷ trọng trong cơ cấu GDP do các khu công nghiệp khác trong Vùng
Kinh tế Trọng điểm phía Nam sẽ ngày càng có lợi thế cạnh tranh cao
hơn, nhất là trong những ngành thâm dụng lao động; hơn nữa, các tỉnh
thuộc đồng bằng sông Cửu Long cũng sẽ có những bước phát triển mạnh
mẽ trong quá trình công nghiệp hóa và sẽ cạnh tranh với các ngành
công nghiệp chế biến của Thành phố, nhất là trong lĩnh vực chế biến
lương thực-thực phẩm...
Trong khi hoạt động công nghiệp có xu hướng suy giảm
sau năm 2010, vai trò trung tâm thương mại-dịch vụ, đầu mối giao lưu
quốc tế đối với khu vực và cả nước của thành phố lại ngày càng trở
nên quan trọng hơn. Ðặc biệt, không như hoạt động sản xuất công nghiệp,
trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa toàn khu vực, vai trò
trung tâm thương mại-dịch vụ của TP.HCM càng có vị trí thiết yếu chứ
không hề bị chia sẻ bớt đi. Các hoạt động thương mại-xuất nhập khẩu
và tài chính sẽ ngày càng trở thành bộ phận chủ chốt trong cỗ máy
kinh tế của thành phố. Với sự bùng nổ sản xuất từ những khu công nghiệp
ở các tỉnh lân cận, các kênh lưu thông hàng hóa và vai trò trung tâm
trung chuyển trong nước và ngoài nước của thành phố cần phải được
tăng cường hơn bao giờ hết. Xuất phát từ tỷ trọng tương đối nhỏ nhưng
suất sinh lợi trong hoạt động kinh doanh lại cao, các ngành tài chính,
ngân hàng và bảo hiểm sẽ có rất nhiều tiềm năng tăng trưởng nhanh
chóng trong thời gian tới với sự hình thành của một trung tâm tài
chính, với vai trò chuyển tải vốn đầu tư giữa các vùng trong nước
và giữa trong nước với nước ngoài.
Tóm lại, với những lợi thế và tiềm năng của mình,
TP.HCM cùng cả nước sẽ hướng lới một xã hội văn minh, hiện đại và
một nền kinh tế phát triển với sức cạnh tranh mạnh mẽ trong tương
lai. Tuy nhiên, con đường phát triển vẫn nhiều thách thức. Ðể vượt
qua những thách thức này, TP.HCM sẽ phải tiếp tục giữ vững nhịp độ
tăng trưởng cao, chú trọng tới sự phát triển công bằng và bền vững,
tạo chuyển biến mạnh mẽ trong cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng,
mở rộng diện và đẩy nhanh các chương trình đổi mới cơ chế quản lý,
cải cách hành chính, tập trung giải quyết các vấn đề về văn hóa-xã
hội cấp bách... tạo tiền đề cho bước phát triển cao hơn trong thế
kỷ tới.
(Viện kinh tế TP HCM).
Hồ Chí Minh với Sài Gòn