LĂNG ÔNG BÀ CHIỂU
Lăng
tả quân Lê văn Duyệt, còn gọi là "Lăng ông Bà Chiểu", là
một di tích lịch sử - văn hóa ở TP.HCM đã được nhà nước công nhận
là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. Ðây không chỉ là nơi thờ cúng
một nhân vật lịch sử cách nay hơn thế kỷ mà còn là công trình kiến
trúc có giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc mang đậm nét văn hóa truyền
thống Việt Nam nói chung và vùng đất Nam bộ nói riêng. Nằm kề bên
chợ Bà Chiểu nên "Lăng ông Bà Chiểu" là tên gọi phổ biến
trong dân gian để chỉ di tích lịch sử - văn hóa: lăng tả quân Lê Văn
Duyệt. Lăng tọa lạc số 126 Ðinh Tiên Hoàng - phường 1 - Quận Bình
Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh trên một khu đất rộng 18.500 m2. Thật
ra, theo đúng như hàng đại tự phù điêu trên cổng Tam quan thì tên
gọi chính xác phải là "Thượng Công Miếu".
Vốn nằm trên vùng đất hoang ở thượng du Nghi giang
nên dọc lối đi vào khuôn viên lăng ngày nay vẫn còn nhiều cây gỗ quý
cao to, bóng mát như: si, dầu, bằng lăng... Theo lời của một số người
am hiểu thì ngày xưa, Lăng ông nằm trên một gò đất hình lưng qui.
Ðối với khoa "địa lý" thì đây là vị thế nằm vào "long
mạch" hợp với "địa linh nhân kiệt", tài lộc đời đời
vĩnh tế và sẽ có ảnh hưởng tốt cho sự an lạc của đồng bào cư trú trong
khu vực.
Khuôn viên Lăng ông hiện còn khá rộng, được giới
hạn bởi bức tường vây quanh với chu vi 500m, cao 1,2m. Bốn cổng lăng
mở ra bốn hướng:
- Cổng Ðông (mở ra đường Trịnh Hoài Ðức).
- Cổng Tây (mở ra đường Ðinh Tiên Hoàng).
- Cổng Bắc (mở ra đường Phan Ðăng Lưu).
- Cổng Nam - Cổng Tam quan (mở ra đường Vũ Tùng).
Trước
kia, khi những con đường trên chưa được mở thì diện tích Lăng ông
lớn gấp 2 lần hiện nay. Phía trước và hai bên lăng miếu là phần đất
hương hỏa mà triều đình Tự Ðức - năm thứ 13 (1860) ban cho xã Bình
Hòa thâu huê lợi để phụng sự và trùng tu lăng miếu.
Tuy gọi là Lăng ông nhưng tại khu lăng mộ lại có
hai ngôi mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt và của chánh thất tả quân phu
nhân Ðỗ Thị Phận, được song táng theo cổ lệ "càn khôn hiệp đức"
của Nho giáo. Trước mộ phần là một ngôi điện nhỏ, tường gạch, mái
lợp âm dương, phía trên vòm cửa hình vòng cung phù điêu hàng chữ "Lê
Công Bí Ðình".
Cùng nằm trên một trục và cách khu lăng một khoảng
sân rộng 26 x 15m là khu vực trung tâm diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng
được gọi là "Thượng công linh miếu". Bố cục của "Thượng
công linh miếu" bao gồm: tiền điện, trung điện và chánh điện,
mỗi gian điện thờ cách nhau bằng một sân Thiên Tĩnh. Ðối xứng hai
bên trục nhà chính là Ðông Lang , Tây Lang - Lễ khách đường. Nhìn
bề ngoài, toàn bộ mái nhà "Thượng công linh miếu" như điệp
vào nhau xếp thành lớp, thành tầng. Nóc sau cao hơn nóc trước với
các cổ lầu rất nguy nga, bề thế. Vật liệu cũng như kỹ thuật kết cấu
của "Thượng công linh miếu" có những đặc điểm đáng chú ý:
kế thừa kiến trúc cổ truyền Việt Nam, đồng thời có sự cách tân , nên
hình khôí kiến trúc có những thay đổi, tạo sự vững vàng, bền chắc.
Tường gạch giữ vai trò quan trọng trong kết cấu chịu lực; cột gạch
thay thế cột gỗ ở hàng hiên để chịu đựng lâu dài trước mưa dầm và
nắng gắt của vùng nhiệt đới phương nam. Nhìn chung Tiền điện, Trung
điện và chánh điện có một vài sự khác nhau về vật liệu và kỹ thuật
kết nối bên trong. Tuy nhiên bộ mái nhà hai tầng là một nét đặc sắc
chung trong tổng thể kiến trúc "Thượng công linh miếu",
thể hiện đặc điểm kiến trúc Việt Nam. Các bờ nóc được xây cao với
hai đầu cong, trang trí "Lưỡng Long chầu nguyệt" trông giống
như những chiếc thuyền rồng đang neo lại. Trên bề mặt bờ nóc được
chia thành từng ô hình vuông và chữ nhật để đắp những đề tài trang
trí khác. Cảm giác cong nhẹ của mái là điểm xoáy hất lên của đuôi
rồng chầu vào bờ nóc hoặc nơi oằn xuống của lưng kỳ lân.
Sau nhiều đợt trùng tu, di tích Lăng ông đã phần
nào phục hồi được nét uy nghiêm, cổ kính vốn có của một cơ sở tín
ngưỡng và đã trở thành di sản quí giá trong kho tàng văn hóa dân tộc
Việt Nam.
(Tài liệu Lăng tả quân Lê văn Duyệt
- Nhà XB TP.HCM)