Thành phố Sài Gòn được thành lập trên một vùng đất có nhiều sông ngòi,
kinh rạch và phát triển thành một đô thị lớn nhưng vẫn còn dấu vết
của sông ngòi cũ, qua những địa danh đã trở thành quen thuộc.
Sông chính của thành phố là sông Sài Gòn, chảy qua
tỉnh Bình Dương xuống Gia Định, rồi chảy sát phía Đông làm ranh giới
với tỉnh. Những con sông và kinh rạch đáng kể là sông Thị Nghè (phụ
lưu của sông Sài Gòn), kinh Đôi, kinh Hành Bàng, kinh Bến Nghé, rạch
Cát, kinh Ruột Ngựa, (Mã Trường Giang) rạch Cầu Ông Lãnh, rạch Lò
Gốm, rạch Cầu Kiệu, rạch Ông Buông, kinh Tàu Hủ...
Về nguồn gốc tên sông Thị Nghè, ta có hai tuyến khác
nhau: Thứ nhất Bà Nguyễn Thị Khánh, con gái Khâm sai Nguyễn Cửu Vân
(thời chúa Nguyễn Phúc Chu, 1691-1725) và là vợ của ông Nghè làm thư
ký trong dinh Phiên Trấn, cho xây mộy cây cầu dài bắt qua sông để
chồng tiện đi làm việc và cũng để dân chúng sử dụng. Cầu nầy được
dân gọi Bà Nghè, sau đổi thành Thị Nghè. Thứ hai bà Thị Nghè(vợ một
ông Nghè) tổ chức các toán dân Pháp đánh quân Pháp. Khi giặc chiếm
Sài Gòn, cho một tàu nhỏ đổ quân lên bờ liền bị nghĩa quân của Thị
Nghè đánh dữ dội. Sau bà hy sinh trong một trận đánh. Dân chúng đặt
tên sông, cầu và vùng Thị Nghè từ đó.
Kinh Tàu Hủ (còn gọi là kinh Chợ Lớn) và đường thủy
vẫn quan trọng về giao thông và kinh tế, vì nối liền Sài Gòn với các
sông ngòi chảy xuống miền Tây. Xưa, vùng nầy còn có rạch Chợ Lớn nhưng
quá nhỏ hẹp nên vua Gia Long cho 11.460 dân công đào kinh Tàu Hủ trong
ba tháng và hoàn tất ngày 23 tháng Tư năm Kỷ Mảo (1819). Kinh dài
độ năm cây số rưởi, rộng gần 37 thước, sâu khoảng 17 thước. Gia Long
đặt tên kinh là An Thông Hạ. Kinh Ruột Ngựa do quan Nguyễn Hữu Đàm
cho đào vào mùa Thu năm Nhâm Thìn (1772), phá một đường sình lầy để
đào con kinh thẳng như ruột ngựa, nên gọi là "Mã Trường Giang",
giúp cho thuyền bè đi lại được thuận lợi hơn.
Lúc đất Sài Gòn mới phát triển, có rất nhiều kinh
rạch đào ngang dọc thành phố nhưng đã bị lấp từ lâu để làm đường xá
như kinh Sa Ngư (sau lấp lại thành đường Nguyễn Huệ, kinh Cây Cầm,
(chạy trên đường Lê Thánh Tông), kinh Chợ Vải (chạy tới mặt tiền Toà
Đô Chính). rạch Cầu Sấu (xưa có hầm nuôi cá sấu để bán thịt, rạch
chạy đến hai đường Công Lý và Hàm Nghi), rạch Bà Tịnh (chạy đến đường
Võ Tánh)... Vì thế, Sài Gòn có rất nhiều cầu xưa cũ như cầu Cao Miên
(cầu Bông), cầu Muối , cầu Ông Lãnh, cầu Mống, cầu Quây, cầu Kho,
cầu Quan, cầu Thị Nghè, cầu Xóm Chỉ, cầu Chợ Lớn, cầu Chà Và, cầu
Xóm Củi, cầu Ông Lớn (xưa dân chúng không được gọi tên thật của Việt
gian Đỗ Hữu Phương), cầu Bót Bình Tây, cầu Ba Cẳng...
Sài Gòn sớm xuất hiện ở vị trí mũi nhọn của cuộc
Nam tiến tìm đất sống của người Việt, trở thành tụ điểm di dân tứ
xứ, nơi gặp gỡ của nhiều luồng giao lưu. Quá khứ đó đã tạo nên diện
mạo và bản sắc của Sài Gòn, một thành phố ngã ba đường, khác hẳn với
những đô thị truyền thống Việt Nam. Tại những thành phố như Sài Gòn,
sự phồn vinh làm cho cư dân gần gũi nhau, ký ức đan xen vào nhau.
Nhịp sống ở đó mãnh liệt, hỗn độn hơn. Thông qua các đô thị như thế,
đất nước được nối kết với các luồng giao lưu liên tục về con người,
tư tưởng và cả luồng tư bản. Nó cũng chuyển về cho đất nước luồng
sinh khí mới, nhiều sáng tạo, ngày càng lan rộng ra toàn bộ đất nước
cùng với những cái mới rất cần thiết, chống lại sự xơ cứng, rập khuôn,
đơn điệu. Sài Gòn khởi đầu là giao điểm các đường thủy bộ, tụ điểm
lưu dân người Việt. Người Hoa tiếp tay biến nó thành một cảng thị
sầm uất để giao lưu với khu vực. Người Pháp đến đã mở toang cảng thị,
thu hút đầu tư và di dân tứ xứ về đây xây dựng nơi đây thành hẳn một
đô thị công thương nghiệp hiện đại, trung tâm của một thị trường rộng
lớn gồm cả vùng Đông Dương lẫn Hoa Nam.
Sài
Gòn từ đó đặc biệt mang dấu ấn Pháp. "Nhưng Sài Gòn chưa bao
giờ là nước Pháp. Nếu nó mang dấu ấn của các nhà kiến trúc Pháp thì
ngược lại chính các nhà kiến trúc cũng mang nặng dấu ấn của Sài Gòn",
như nhận xét của Tùy viên Văn hóa-Khoa học Pháp Stéphane Dovert trong
đề tựa cuốn sách viết nhân Sài Gòn 300 tuổi. Thời Pháp thuộc, Sài
Gòn đã tồn tại song song nhiều dạng ở và sinh hoạt. Có mạng lưới ngõ
xóm của người Việt, thành phố vườn cây của người Pháp, phố xá sầm
uất của người Hoa, đường phố bazar của người Ấn. Chưa bao giờ thành
phố Sài Gòn mang tính chất đa văn hóa, đa chủng tộc như thời đó. Cho
nên ở Sài Gòn, khác với bất cứ nơi nào ở nước ta, ta có thể nhìn thấy
bên cạnh đình chùa Việt là chùa miếu, hội quán của người Hoa, chùa
Miên, thánh đường Thiên chúa giáo bên cạnh chùa Chà, mosque Hồi giáo,
đền Chăm… các lối sống và sinh hoạt văn hóa cứ đan xen nhau rõ rệt
ở Sài Gòn. Từ đất Gia định, Gò Vấp, Hóc Môn nửa phố thị, nửa miệt
vườn, ta có thể bước vào khu phố Tàu Chợ Lớn nhộn nhịp. Từ quán ăn
Pháp có thể xẹt vào tiệm bazar Chà. Tính chưa đầy đủ Sài Gòn những
năm đó có tới hơn 40 quốc tịch khác nhau sinh sống lâu năm. Đông đảo
nhất là người Việt với biểu hiện qua 272 ngôi đình cùng hàng nghìn
chùa miếu, nhà thờ…
Không ít người cho rằng Sài Gòn là một thành phố
mới, lai tạp, không có bản sắc văn hóa riêng do tính chất ngã ba đường
của nó. Thực ra, lịch sử Sài Gòn tuy chỉ mới mấy trăm năm, nhưng bản
sắc độc đáo từng làm nên cái hồn đô thị của nó cũng đã hình thành
qua các công trình cha ông để lại. Khu tứ giác vùng đất cao trung
tâm quận I vẫn là khu trung tâm lịch sử của thành phố. Cha ông chúng
ta đã chọn chốn này làm trung tâm đô thị. Người Pháp đến cũng không
có sự chọn lựa nào khác để đặt các cơ quan đầu não với các công trình
kiến trúc chọn lọc như dinh Toàn quyền, Nhà thờ lớn (Đức Bà), Tòa
án, Nhà hát, Bưu điện… Tất cả đã làm nên một quần thể kiến trúc với
một không gian rộng mở, hòa nhập vào trong khoảng cây xanh, tạo thành
một tuyệt tác quy hoạch đô thị vừa lãng mạn, vừa uy nghiêm. Nhờ đó
mà Sài Gòn đã từng được du khách phương Tây dành cho cái tên khá mỹ
miều "Hòn ngọc Viễn Đông".
Khi nói về Sài Gòn, KTS Hoàng Đạo Kính đã nhận xét
thật chính xác: "Thành phố Sài gòn khác hẳn những đô thị khác.
Trong sự phát triển của nó không thể không dựa vào những yếu tố chủ
đạo như những khoảng không lãnh thổ rộng lớn, hệ thống kênh rạch,
sông và biển, những truyền thống và giá trị văn hóa Nam Bộ, quỹ kiến
trúc đô thị và kỹ thuật khổng lồ và không thiếu sắc thái riêng, sự
tham gia tương đối sớm vào quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa, trình
độ quản lý đô thị và nhất là trình độ nổi trội trong công nghệ xây
dựng. Không thể không nhắc tới một yếu tố: sức sống, tính năng động,
sức vươn lên của cả một cộng đồng xã hội".
Tiếc rằng hiện nay trong cái nôn nóng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, nhiều đô thị nước ta trong đó có cả Sài Gòn, chúng
ta chưa tiếp thu được những bài học của quá khứ và đang vô tình xóa
dần đi di sản khi áp dụng kiểu qui hoạch máy móc bàn giấy, phủ nhận
nền kiến trúc của các thế hệ đi trước. Làm như vậy là chúng ta tự
đóng cửa với quá khứ, làm mất đi bản sắc của chính mình, phá bỏ thành
quả của các thế hệ đã qua và trầm trọng hơn là đang xóa đi chính cái
hồn đô thị của mình. (KTS Nguyễn Hữu Thái-VHNT)